Lâm Thị Phương Thanh đạo văn? - Phần cuối
LTS:
- Bài viễn dẫn nguyên văn bài post của tác giả trên facebook group Liêm chính khoa học: https://www.facebook.com/groups/LiemChinhKhoaHoc
- Chúng mình đăng lại với mục đích lưu trữ, vì một phần bài gốc đã bị ẩn khỏi Việt Nam.
- Loạt bài gồm 3 phần các bạn xem các phần tiếp theo ở link bên dưới:


Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh sử dụng văn của tác giả khác nhưng không ghi nguồn trong Luận văn Thạc Sĩ năm 2009 tại Đại học Quốc gia Hà Nội - Phần cuối
Tóm tắt:
Khi ghép các mảnh bằng chứng lại với nhau, bà Thanh sao chép khoảng 30 trang nội dung trên tổng 80 trang nội dung luận văn Thạc Sĩ từ các nguồn khác nhau, trong đó có 22 trang nội dung không ghi nguồn, và 8 trang nội dung sao chép nguyên văn bản từng câu, từng chữ, từng dấu chấm nhưng có ghi nguồn số (tôi bỏ qua). Một số việc sao chép khác về định nghĩa hay văn bản trong BLHS, BLDS không trích nguồn tôi cũng bỏ qua.Luận văn có những đoạn tương đồng cao với ít nhất các nguồn của:
- Nguyễn Xuân Tĩnh, đặc biệt phần thủ tục tố tụng người chưa thành niên ở khoảng trang 47-51.
- Hoàng Văn Tiến, nhiều đoạn về quyền tham gia của trẻ em, xuất hiện ở các trang như 32, 52, 58 và 72-73.
- Đinh Xuân Nam, các giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở khoảng trang 77-78.
- Đinh Hạnh Nga, nhiều phần về hệ thống quyền trẻ em và các ngành luật khác nhau, xuất hiện tại các trang như 21, 26, 44, 46, 54, và 66-67.
- Nguyễn Thị Lụa, đoạn mở đầu về đặc điểm tâm lý, hành vi và vai trò của gia đình đối với trẻ vị thành niên ở trang 13.
- Nguyễn Kiến Giang, nội dung về vai trò của gia đình trong hình thành nhân cách, đặc biệt ở khoảng trang 63-65; trang 63 có dẫn nguồn [38], nhưng phần tiếp tục ở trang 65 lại không ghi nguồn tương ứng.
- Phạm Hồng Tung, khung lập luận về nhóm “thanh niên” được chuyển thành “người chưa thành niên” ở trang 11, trong khi cấu trúc và chuỗi lập luận của nguồn năm 2008 vẫn được giữ lại.
Đây là phần thứ 3 và cũng là cuối cùng. Rất cảm ơn mọi người đã đọc và dành tình yêu thương. Tên của nhóm này là Liêm Chính Khoa Học, vậy nên xin hãy chú trọng vào nội dung, tài liệu và bằng chứng được trình bày trong bài viết, thay vì chức vụ, quan điểm chính trị hay những vấn đề cá nhân không liên quan.
Mọi nhận định trong bài đều dựa trên việc đối chiếu trực tiếp văn bản, kèm nguồn và số trang cụ thể để người đọc có thể tự kiểm chứng. Nếu có trang nào hay cá nhân nào muốn gạch đỏ, gạch chéo nội dung, xin vui lòng phản biện bằng chứng được đưa ra trước.
Ở hai bài trước, tôi đã đối chiếu nhiều đoạn trong luận văn thạc sĩ “Bảo vệ quyền trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật” của Lâm Thị Phương Thanh, thực hiện tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009. Những phần đã chỉ ra trước đó cho thấy nhiều đoạn văn trùng rất sát với các công trình của Nguyễn Xuân Tĩnh, Hoàng Văn Tiến, Đinh Xuân Nam và Đinh Hạnh Nga.
Vẫn còn rất nhiều đoạn sử dụng gần nguyên cấu trúc và câu chữ của nguồn trước mà không có trích dẫn trong văn bản ngay tại đoạn được sử dụng.
Ngay tại trang 13, luận văn viết về nhóm trẻ từ 10 đến 16 tuổi, đặt đoạn này cạnh bài “Giáo dục trẻ vị thành niên: Khi gia đình thiếu trách nhiệm” của Nguyễn Thị Lụa, đăng trên Báo Nhân Dân ngày 19/08/2008, có thể thấy trình tự lập luận, ví dụ và phần lớn cách diễn đạt tương ứng rất sát (giống hệt nhau).

Đường dẫn đến bài báo trên báo Nhân Dân:

Đoạn bị sao chép:
Theo Tổ chức Y tế thế giới, vị thành niên là nhóm trẻ ở độ tuổi từ 10 đến 16 - là lực lượng trẻ trong cơ cấu dân số và sẽ là chủ nhân tương lai của đất nước. Do đó, sự phát triển của vị thành niên là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng hệ trọng của chiến lược dân số nước ta hiện nay. Vị thành niên là giai đoạn phát triển quá độ cả về tâm lý, tình cảm và thể chất, dễ diễn ra khủng hoảng trong tâm lý, tình cảm và nhận thức. Chỉ một cú sốc nhỏ về tâm lý, tình cảm trong quan hệ gia đình, bè bạn, hay do bị dụ dỗ, có khi đua đòi muốn "khẳng định"... họ rất dễ có những ứng xử bất thường như quá khích không làm chủ được mình, bỏ nhà đi lang thang, phạm tội, sử dụng ma túy hay tham gia hoạt động mại dâm...
Vì vậy, nếu lực lượng này không được quan tâm chăm sóc chu đáo, giáo dục đầy đủ và định hướng đúng cho sự phát triển thì rất dễ đứng trước nguy cơ hoặc trở thành nạn nhân hoặc trở thành kẻ gây ra các tệ nạn xã hội. Từ đó đặt ra trách nhiệm vô cùng lớn lao của cả xã hội, cộng đồng, đặc biệt là gia đình - cái nôi nuôi dưỡng nhân cách con người - trong việc chăm sóc và giáo dục vị thành niên.
Theo phần đối chiếu hiện có, đoạn sử dụng này không kèm trích dẫn trong văn bản để chỉ cho người đọc biết nội dung được lấy từ bài của Nguyễn Thị Lụa.
Một trường hợp khá đáng chú ý nằm trong phần “Nhóm các nguyên nhân từ phía gia đình”.

Ở trang 63, luận văn có một đoạn bàn về vai trò của gia đình trong quá trình hình thành nhân cách và cuối đoạn có ký hiệu [38] sao chép giống với nguồn:
Một sự thật đã được khoa học, nhất là tâm lý học, chứng minh: gia đình là thể chế xã hội đầu tiên góp phần quyết định vào sự hình thành nhân cách trẻ em, hay nói đúng hơn, vào sự hình thành cấu trúc nhân cách. Cấu trúc nhân cách có nhiều lớp, nhưng lớp căn bản, có ý nghĩa tạo dựng - thường gọi là nhân cách cơ sở - nói chung được hình thành trong môi trường gia đình (chỉ trừ những trường hợp mồ côi cả bố lẫn mẹ từ lúc sinh ra) [38].
Danh mục tài liệu cho biết [38] là bài “Giáo dục gia đình: Những thách đố mới” của tác giả Nguyễn Kiến Giang viết cho Hội thảo “Vấn đề giáo dục gia đình”, Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ năm 1993. Đoạn này vì vậy có thể xem là trường hợp nguồn đã được ghi nhận tương đối rõ.
Đường dẫn đến bài viết được Talawas lưu trữ năm 2006:
https://talawas.org/talaDB/showFile.php?rb=0306&res=7564
Hutech cũng đăng lại bài viết của Nguyễn Kiến Giang vào năm 2014:

Nhưng đến trang 65, luận văn tiếp tục sử dụng một đoạn dài từ chính tài liệu của Nguyễn Kiến Giang:

Không thể có sự hình thành và phát triển nhân cách một cách đầy đủ và vững bền nếu không có một môi trường giáo dục gia đình thuận lợi. Bởi vì gia đình là thể chế đầu tiên quan trọng nhất in dấu lên nhân cách đang hình thành vào lứa tuổi còn non dại, khi trẻ em chưa có ý thức rõ về điều đó. Những mối liên hệ của trẻ em với môi trường này, đặc biệt với bố và mẹ, 66 quyết định phương thức ứng xử, nhất là về mặt tình cảm, mà chúng sẽ trải qua sau này trong những mối liên hệ với các cá nhân khác. Một mối liên hệ tốt với bố mẹ, nhất là với mẹ, nếu được coi là “tốt”, sẽ đem lại cho chúng sự phấn chấn, tin cậy, lòng biết ơn và lòng hào hiệp sau này. Và nếu như mối liên hệ ấy bị trẻ coi là “xấu” thì sẽ đem lại cho chúng nỗi lo sợ mất đi cái đang có, sự bất an, sự ganh tức, sự nghi ngờ, thậm chí cả sự co mình lại kiểu tinh thần phân lập.
Khi đặt hai văn bản cạnh nhau, phần này trùng rất sát về câu chữ và trình tự. Tuy nhiên, khác với đoạn ở trang 63, phần trang 65 không có một trích dẫn trong văn bản tương ứng để cho người đọc biết đây tiếp tục là văn từ Nguyễn Kiến Giang.
Một trường hợp khác nằm rất sớm ở trang 11, đoạn:

Tiếp cận từ góc độ xã hội học - dân cư có thể định nghĩa “chưa thành niên” là một bộ phận phức hợp của dân cư của một quốc gia - dân tộc bao gồm tất cả các cá thể ở trong độ tuổi dưới 18 tuổi. Như vậy, bộ phận dân cư được gọi là “người chưa thành niên” này chỉ phân biệt một cách tương đối với các bộ phận dân cư khác của quốc gia - dân tộc ấy trên một tiêu chí duy nhất là giới hạn độ tuổi. Có thể nói “người chưa thành niên” là một nhóm xã hội - dân cư “động” chứ không phải là một nhóm “tĩnh”, ổn định. Đặc trưng này hàm chứa cả những ưu điểm và cả những nhược điểm của nhóm xã hội - dân cư “người chưa thành niên”. Một mặt, nhờ quy luật là nhóm “động” thường xuyên cho nên nó luôn là chủ thể chuyển tải liên tục các giá trị liên thế hệ. Vì thế sự chuyển động của nhóm có sự biến động rõ rệt về quy mô, số lượng của các nhóm tuổi. Đối tượng người chưa thành niên cũng có thể được phân nhóm theo độ tuổi, xuất phát từ sự phát triển về thể chất, nhận thức mang tính tương đối.
Khi so với bài của GS.TS Phạm Hồng Tung năm 2008, đoạn trên của bà Thanh giữ lại một khung lập luận rất giống với bài gốc. Điểm thay đổi đáng chú ý là đối tượng trong bài nguồn là “thanh niên”, còn trong luận văn được chuyển thành “người chưa thành niên”.
Bài của GS.TS Phạm Hồng Tung ở đây: https://js.vnu.edu.vn/SSH/article/view/3405

Tức là đây không chỉ là một định nghĩa thông dụng được nhiều người sử dụng giống nhau. Chủ thể nghiên cứu đã được đổi tên, trong khi cấu trúc lập luận, cách mô tả nhóm dân cư “động” và chuỗi lý giải đi kèm vẫn được giữ lại ở mức rất gần nguồn.
→ Tôi chỉ tập trung vào những đoạn dài, còn bỏ qua khá nhiều trường hợp nhỏ nằm rải rác trong luận văn như định nghĩa, lý thuyết. Ví dụ, luận văn có đoạn:
“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội…”
Phần định nghĩa này tương ứng với nội dung trong “Giáo trình đạo đức học” của Nguyễn Ngọc Long và Nguyễn Thế Kiệt. Ngay sau đó, luận văn viết:
“Đạo đức là phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội có phạm vi rộng, có vai trò chi phối hành vi và ý thức của con người, góp phần hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội.”
Câu này lại là câu trong bài “Cơ chế điều chỉnh pháp luật và cơ chế điều chỉnh xã hội” của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế, công bố trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN năm 2002.

Tôi không cho rằng chỉ một câu định nghĩa giống nhau là đủ để kết luận điều gì nghiêm trọng. Trong lĩnh vực luật và lý luận, nhiều định nghĩa có tính khuôn mẫu và việc các tác giả dùng cách diễn đạt tương tự nhau là có thể xảy ra.
Sau khi ghép các bằng chứng lại, có thể thấy một mô hình khá rõ trong luận văn của bà Thanh là luận văn sử dụng nội dung của nhiều tác giả khác nhau. Nhưng, trọng tâm của vấn đề nằm ở chỗ, khi sử dụng câu chữ và lập luận của người khác, luận văn đã phân biệt đủ rõ đâu là văn của tác giả, đâu là văn vay mượn hay chưa?
Các ảnh đối chiếu hiện có cho thấy ở khoảng 22 trang, câu trả lời là chưa.