Lâm Thị Phương Thanh đạo văn? - Phần 2
LTS:
- Bài viễn dẫn nguyên văn bài post của tác giả trên facebook group Liêm chính khoa học: https://www.facebook.com/groups/LiemChinhKhoaHoc
- Chúng mình đăng lại với mục đích lưu trữ, vì một phần bài gốc đã bị ẩn khỏi Việt Nam.
- Loạt bài gồm 3 phần các bạn xem các phần tiếp theo ở link bên dưới:

Bài đầu tiên được mọi người hưởng ứng rất nồng nhiệt, tôi rất cảm kích, nhưng mà tên của nhóm này là Liêm Chính Khoa Học, vậy nên xin hãy chú trọng vào nội dung, tài liệu và bằng chứng được trình bày trong bài viết, thay vì chức vụ, quan điểm chính trị hay những vấn đề cá nhân không liên quan. Xin đừng đi lạc đề, hay có những bình luận mang tính tiêu cực.
Thứ hai, mọi nhận định trong bài đều dựa trên việc đối chiếu trực tiếp văn bản, kèm nguồn và số trang cụ thể để người đọc có thể tự kiểm chứng. Nếu có trang nào hay cá nhân nào muốn gạch đỏ, gạch chéo nội dung, xin vui lòng phản biện bằng chứng được đưa ra trước.
Đường dẫn đến Luận văn bà Thanh (cộng với một bài báo khoa học từ năm 2004 mà bà Thanh sao chép): https://drive.google.com/drive/folders/1MK-aoofVWO580yG4Q3NrcLhFoCFfUyYw
Một vài lưu ý trước khi đọc:
- Tôi có đảm bảo những thông tôi đưa ra là chính xác không? Tôi hoàn toàn NHẬN TRÁCH NHIỆM về mình nếu nội dung tôi đưa ra là không chính xác, thậm chí nhận trách nhiệm trước pháp luật nếu thông tin sai lệch. Tất cả nội dung đưa ra đều có bằng chứng đối chiếu, dựa danh những chuẩn mực Liêm chính Khoa học.
- Tôi phe ai? Ai bắt tôi làm việc này? Tôi phe Ati và Liêm chính Khoa học. Bạn đi vào lịch sử bài viết, tôi cho mọi người ở nhóm này xem 50 bài báo khoa học có trích dẫn bịa đặt và nội dung giả. Con số bài báo tôi phát hiện là trên 100 bài ở Việt Nam, và có đến 30 bài báo khoa học bị rút nhờ vào báo cáo của tôi. Tôi làm vì muốn đảm bảo cho một nền khoa học của đất nước trong sạch.
Ở bài trước, tôi đã đưa ra các đoạn từ trang 47 đến 51 và trang 72-73 trong luận văn thạc sĩ “Bảo vệ quyền trẻ em đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật” của Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, thực hiện tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế.
Phần này tiếp tục đưa bằng chứng việc bà Thanh sao chép bài báo “Một số vấn đề về quyền tham gia của trẻ em” của TS. Hoàng Văn Tiến, đăng ngày 31/3/2009.
Đường dẫn đến bài báo của ông Tiến: https://web.archive.org/web/20090619105712/http://www.baovetreem.vn/Vi/Nghien-cuu-Trao-doi/All/Mot-so-van-de-ve-quyen-tham-gia-cua-tre-em.html
Ở trang 52 của luận văn, đoạn bắt đầu bằng việc viện dẫn Điều 105 Bộ luật Hình sự, sau đó bàn về các hành vi chỉ được truy tố khi có yêu cầu của nạn nhân, vấn đề lạm dụng trẻ em, hòa giải, bồi thường và quyền tham gia của trẻ em trong tố tụng hình sự, trùng rất sát với mục 2.4 của bài Hoàng Văn Tiến. Đoạn văn sao chép:

Điều 105 Bộ Luật Hình sự quy định một số hành vi như cố ý gây thương tích, ép buộc quan hệ tình dục, hiếp dâm, chỉ được truy tố khi có yêu cầu của nạn nhân (hoặc người đại diện hợp pháp cho nạn nhân trong trường hợp nạn nhân là người chưa thành niên hay bị khuyết tật về thân thể hoặc tâm trí). Quá trình giải quyết những tội phạm nguy hiểm về lạm dụng trẻ em thông qua hoà giải và bồi thường hiện vẫn đang còn tranh luận. Mặc dù pháp Luật Việt Nam cho phép trẻ em (là nạn nhân hay thủ phạm) có quyền tham gia vào các quy trình tố tụng hình sự và có quyền trình bày ý kiến và quan điểm của mình, bản thân quá trình tố tụng cũng chưa được điều chỉnh một cách phù hợp để tạo điều kiện cho các em hưởng quyền này đầy đủ và hiệu quả.
Đáng nói hơn, trang 32 của luận văn cũng có một đoạn rất dài về quyền tham gia của trẻ em trong Bộ luật Tố tụng dân sự, quyền đối với tài sản chung của gia đình, thay đổi tên, quốc tịch, hình ảnh, đời tư, nhận con nuôi, quyền khiếu nại và tố cáo. Nội dung này tiếp tục trùng với bài của Hoàng Văn Tiến.
Đoạn văn sao chép:
Quyền được tham gia của trẻ em đã được quy định trọng Bộ luật tố tụng dân sự (năm 2004), bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong việc đưa ra quyết định đối với những tài sản chung của gia đình (điều 109), thay đổi tên (điều 27), và trong việc xác định quốc tịch (điều 28 và 30), cũng như liên quan đến ảnh (điều 31) và sự riêng tư (điều 38). [Rút gọn bớt xíu nha]. Một phản ứng quan trọng đối với việc thực hiện quyền trẻ em nói chung và quyền tham gia của trẻ em trong gia đình, nhà trường và cộng đồng nói riêng là việc ban hành Quyết định 03/2004/DSGĐTE, ngày 01 tháng 6 năm 2004 của Chủ nhiệm Uỷ Ban dân số gia đình và trẻ em liên quan đến tiêu chuẩn cộng đồng thân thiện với trẻ em trong cả nước.

Trang 58 là trường hợp cần nói công bằng hơn. Phần này có ký hiệu tài liệu [44], và đoạn văn cũng tương ứng đáng kể với nội dung trong bài của T.S Hoàng Văn Tiến. Như vậy, khác với những đoạn hoàn toàn không có trích dẫn thì ở đây ít nhất nguồn đã được chỉ ra.

Tuy nhiên, nếu một đoạn được lấy gần như nguyên văn từ tác giả khác, cách trình bày thông thường phải cho người đọc biết rõ rằng đây là lời của nguồn, chẳng hạn bằng trích dẫn trực tiếp, dấu ngoặc kép hoặc cách trình bày tương đương.
Nhưng vì thời điểm hoàn thành luận văn là vào năm 2009, do đó, tôi sẽ không xếp trang 58 cùng mức với những đoạn hoàn toàn không ghi nhận tác giả, nhưng cũng khó coi đây là một cách trích dẫn đầy đủ theo tiêu chuẩn học thuật hiện nay.
Phát hiện bất ngờ nhất là việc bà Thanh sao chép một số lượng lớn nội dung từ bài “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam hiện hành” năm 2004 của Đinh Hạnh Nga, đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật.
Đường dẫn đến bài báo (tôi cũng đã tải tệp lên ở Google Drive): https://js.vnu.edu.vn/LS/article/view/2898
Ngay tại trang 21 của luận văn bà Thanh, phần phân chia quyền trẻ em thành bốn nhóm, thì bà Thanh đã sao chép cách diễn đạt, và lẫn nội dung khái niệm từ trang 68 bài của bà Nga từ năm 2004.

Các đoạn sao chép:
Quyền được sống: bao gồm quyền của trẻ em được sống và được đáp ứng những nhu cầu để tồn tại, như: mức sống đủ, có nơi ở, dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ. - Quyền được phát triển: gồm những thứ trẻ em cần có để phát triển đầy đủ nhất như quyền giáo dục, vui chơi, các hoạt động văn hóa, tiếp cận thông tin... - Quyền được bảo vệ: đòi hỏi trẻ em phải được bảo vệ, chống tất cả các hình thức lạm dụng, xao nhãng và bóc lột. - Quyền được tham gia: cho phép trẻ em đóng một vai trò tích cực trong cộng đồng và đất nước của các em, gồm sự tự do diễn đạt, bày tỏ quan điểm.
Tiếp nữa, ở mục 2.2, trang 44, luận văn bàn về Luật Quốc tịch. Đoạn này cũng rất giống mục 3.2 trong bài của Đinh Hạnh Nga. Tuy nhiên, cuối mục có ký hiệu tài liệu [34], và trong danh mục tài liệu tham khảo có tài liệu của Đinh Hạnh Nga, mặc dù theo ảnh đối chiếu, số thứ tự đáng lẽ dường như phải là [35].

Đoạn sao chép:
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Quốc tịch Việt Nam là một ngành luật thuộc hệ thống luật công, điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và dân cư sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. [Rút gọn bớt]... Rõ ràng, Luật Quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc Bảo vệ quyền trẻ em. Thông thường, Luật Quốc tịch bảo vệ quyền trẻ em bằng các quy định về sự có, mất, thay đổi quốc tịch, quốc tịch của người chưa thành niên, thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề quốc tịch [34].
Vì vậy, tôi không đánh đồng trường hợp này với những đoạn mà không được trích nguồn, bởi vì bà Thanh người viết dường như biết và có sử dụng bài của Đinh Hạnh Nga làm nguồn, nhưng chỉ cho trích dẫn trong văn bản đúng MỘT CHỖ DUY NHẤT là chỗ này.
Chính vì vậy, những đoạn khác lấy rất nhiều câu chữ từ cùng bài này nhưng không gắn nguồn ngay tại vị trí sử dụng lại càng đáng để đặt câu hỏi.
Ở mục 2.2.2, trang 47, luận văn viết về vị trí của người chưa thành niên trong pháp luật hình sự. Đặt cạnh mục 3.4 “Luật Hình sự, Luật Tố tụng Hình sự” của bài Đinh Hạnh Nga, có thể thấy cả hai đoạn này giống hệt nhau, nhưng bà Thanh không đưa ra trích dẫn trong văn bản để nói là lấy văn từ bà Nga.

Đoạn văn sao chép:
Luật hình sự là một ngành luật điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội. Người chưa thành niên là một chủ thể đặc biệt của pháp luật hình sự. Do đó, pháp luật hình sự có chính sách hình sự riêng đối với người chưa thành niên nhằm bảo vệ người chưa thành niên khi họ là đối tượng bị tội phạm xâm hại, đồng thời cũng quy định trách nhiệm hình sự nhưng theo hướng giảm nhẹ đối với người chưa thành niên khi họ chính là người thực hiện tội phạm. Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện thống nhất trong những quy định cụ thể của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự, về nguyên tắc xử lý, về hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) là ngành luật hình thức quy định trình tự, thủ tục thực hiện các quy định của luật Hình sự cũng bảo vệ quyền trẻ em theo tính chất đặc thù riêng của mình. Đó là trao cho trẻ em các quyền tố tụng để họ tự bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời BLTTHS quy định những điều luật cụ thể nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự được khái quát, toàn diện và đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội.
Tương tự, ở mục 2.2.3 về quan hệ lao động, trang 54, đặt cạnh mục 3.6 “Luật Lao động” của bài Đinh Hạnh Nga, phần này có mức độ tương đồng rất cao về trình tự, cấu trúc câu và từ ngữ. Phần nội dung sao chép:
Cũng như mọi ngành luật khác, Luật Lao động cũng cụ thể hóa các quy định của luật Hiến pháp. Luật Lao động điều chỉnh các quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, pháp điển hóa các quyền và nghĩa vụ của người lao động, người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng lao động và quản lý lao động. Luật Lao động coi trẻ em là một đối tượng đặc biệt và đặt ra các quy định riêng đối với người lao động chưa thành niên, nhằm đảm bảo quá trình thực hiện quan hệ lao động của người chưa thành niên diễn ra bình thường, tránh khỏi các công việc quá sức, độc hại, lạm dụng sức lao động, đảm bảo cho quá trình phát triển bình thường của người chưa thành niên trong môi trường lao động.

Ở trang 26, luận văn trình bày tiến trình hình thành các văn bản pháp luật liên quan tới trẻ em như là Bộ luật Hình sự 1985, Luật Hôn nhân và Gia đình 1986, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1988, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991, Luật Giáo dục năm 1998, cùng các chương trình hành động quốc gia.
Đoạn tương ứng trong bài bà Đinh Hạnh Nga trang 66-67 có cùng chuỗi văn bản và gần như cùng cách tổ chức nội dung.

Tổng kết:
Khi ghép với những bằng chứng ở bài trước, bà Thanh sao chép ít nhất 30 trang nội dung trên tổng 80 trang nội dung Luận văn Thạc Sĩ từ các tác giả khác nhau (loại trừ nội dung từ các văn bản luật, và bộ luật cũng được sao chép), trong đó có 22 trang nội dung không ghi nguồn, và 8 trang nội dung sao chép nguyên văn bản từng câu, từng chữ, từng dấu chấm nhưng có ghi nguồn số (tôi bỏ qua 8 trang này).
Luận văn có những đoạn tương đồng cao với ít nhất các nguồn của:
Nguyễn Xuân Tĩnh, đặc biệt phần thủ tục tố tụng người chưa thành niên ở khoảng trang 47-51 mà không dẫn nguồn ngay tại vị trí sử dụng cho ông Tĩnh (phần 1).
Hoàng Văn Tiến, nhiều đoạn về quyền tham gia của trẻ em, xuất hiện ở các trang như 32, 52, 58 và 72-73 (phần 1 và phần 2).
Đinh Xuân Nam, các giải pháp phòng, chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở khoảng trang 77-78 (phần 1).
Đinh Hạnh Nga, nhiều phần về hệ thống quyền trẻ em và các ngành luật khác nhau, xuất hiện tại các trang như 21, 26, 44, 46 và 54 (phần 2).