Kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Karl Marx, những người cánh tả vẫn tiếp tục nhắc lại thuyết bóc lột lao động nổi tiếng của ông, cho rằng tầng lớp tư sản bóc lột người lao động thông qua đánh cắp thành quả lao động dưới hình thức lợi nhuận. Ông cho là giá trị mà một sản phẩm có được là dựa trên công sức lao động bỏ vào việc sản xuất nó, và bởi vì người lao động mới là người bỏ ra công sức lao động, toàn bộ doanh thu phải thuộc về họ. Giai cấp tư sản không tham gia vào quá trình lao động làm ra sản phẩm nhưng vẫn được giữ một phần doanh thu gọi là “lợi nhuận”, vậy nên Marx cho rằng, họ ăn cướp những gì giai cấp lao động xứng đáng có được.

Có ít nhất 2 sai lầm nghiêm trọng trong lập luận của Marx, những sai lầm mà những người Marxist ở Mỹ (và trên thế giới) thời hiện đại ghét phải thừa nhận.

Một sai lầm nghiêm trọng đó là thuyết bóc lột lao động được đưa ra dựa trên một Học thuyết Giá trị sai lầm. Học thuyết Giá trị Lao động mà Chủ nghĩa Marx sử dụng là Học thuyết Giá trị được chấp nhận vào thời của Marx. Và nếu ta chấp nhận học thuyết này – cho rằng giá trị của một đồ vật sinh ra từ lao động được bỏ vào quá trình sản xuất nó – thì những nhận định của Marx nghe có vẻ rất hợp lý. Chẳng hạn, nếu giá trị của một chiếc xe hơi sinh ra hoàn toàn từ công lao động bỏ vào quá trình sản xuất, ta có thể hiểu tại sao Marx lại cho rằng giá trị của chiếc xe hoàn toàn thuộc về những người lao động, chứ không phải những nhà tư sản không có mặt trên dây chuyền sản xuất.

Tuy nhiên, vào khoảng thập niên 1870, ba học giả, hoạt động độc lập với nhau, đã chứng minh được sai lầm nghiêm trọng của Học thuyết Giá trị Lao động. Ba người này là William Stanley Jevons ở Anh, Carl Menger ở Áo và Leon Walras ở Pháp. Ba người này đã tạo ra “Cuộc cách mạng Cận biên” trong lịch sử Kinh tế học, mà trong đó Học thuyết Giá trị Lao động đã bị thay thế bởi Học thuyết Giá trị Chủ quan, hay Học thuyết Giá trị Hữu dụng Biên.

Jevons, Menger và Walras đã chứng minh được sai lầm của Marx và các nhà kinh tế học cổ điển khác về Học thuyết Giá trị. Giá trị của một đồ vật, theo họ, hoàn toàn không liên quan đến công sức bỏ vào sản xuất. Giá trị của một món đồ phụ thuộc hoàn toàn đánh giá chủ quan mà mọi người đưa ra. Hay nói cách khác, giá trị, cũng như vẻ đẹp, nằm trong mắt người xem.

Ta hãy thử xét, ví dụ, một viên kim cương. Giá trị của nó là gì? Theo những nhà Kinh tế học Cổ điển, gồm cả Marx, giá trị của nó hoàn toàn sinh ra từ lao động bỏ vào quá trình đào mỏ và mang trở lại mặt đất. Vì thế, nếu như viên kim cương được bán với giá $5000 chẳng hạn, cái giá đó phản ánh quá trình lao động khổ cực để đào kim cương và mang đến cho thị trường.

“Hoàn toàn không phải vậy”, Jevons, Menger và Walras cùng nói. Khối lượng lao động bỏ vào việc đào viên kim cương đó là hoàn toàn không liên quan. Chỉ những đánh giá chủ quan mà người bán và người mua đặt vào viên kim cương mới là có giá trị.

Giả sử, có một người đang đi qua sa mạc. Bỗng nhiên anh ta tìm được một viên kim cương nằm trên mặt đất. Sau đó người này quyết định bán nó. Theo như Học thuyết Giá trị, viên kim cương đó giá gần bằng không, bởi vì gần như chả có chút công sức nào được bỏ vào sản xuất hết. Ấy thế mà, khi anh ta bán nó đi, vẫn có người mua trả giá $5000. Đó là bởi vì giá trị của hàng hóa được xác định bởi những đánh giá chủ quan mà người ta đặt lên món hàng.

Thêm một giả sử nữa, khi người này tìm thấy viên kim cương, anh ta đang dần chết khát. Anh ta gặp một người với một bi-đông nước, và người này bán nó với giá một viên kim cương. Bỗng nhiên, giá trị của một viên kim cương, từ quan điểm chủ quan của người tìm kim cương, hạ xuống còn thấp hơn cả một bi-đông nước. Giá trị là hoàn toàn chủ quan, thay đổi tùy theo hoàn cảnh mà mỗi người gặp phải.

Hoặc là hãy thử xét những cái bánh bùn. Giả sử 20 giờ lao động bị tiêu tốn để sản xuất ra một nguồn cung 50 cái bánh bùn. Thế có phải là tự nhiên giá trị được truyền vào đống bánh bùn? Tất nhiên là không. Sẽ không ai muốn trả bất kỳ thứ gì cho mấy cái bánh bùn, cho dù có bao nhiêu giờ lao động được bỏ vào đi chăng nữa. Đó là bởi vì giá trị sản phầm hoàn toàn dựa trên đánh giá chủ quan mà người ta cho nó.

Thuyết Bóc Lột Lao Động Sai Lầm Của Marx 2

Sai lầm nghiêm trọng nữa mà thuyết bóc lột lao động của Marx mắc phải đó là không hiểu vai trò của nhà tư sản trong quá trình sản xuất sản phẩm. Chính nhà tư sản đã đưa công xưởng vào hoạt động. Anh ta có tiền hoặc đi vay mượn. Anh ta mua nhà xưởng. Anh ta mua hoặc thuê thiết bị. Anh ta mua nguyên vật liệu. Anh ta đi thuê lao động. Anh ta lo hoàn toàn việc tìm thị trường, quảng cáo và phân phối sản phẩm.

Và quan trọng hơn hết, anh ta dùng tiền trong túi mình để làm những việc này. Anh ta phải trả hết mọi chi phí đã nêu, bao gồm cả lương công nhân, mà không hề biết chắc chắn rằng liệu sẽ có người mua sản phẩm của mình hay không. Anh ta đang đánh liều số tiền của mình. Nếu sản phẩm không bán được, anh ta sẽ mất hết số tiền chi cho nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền lương.

Vì thế vai trò của nhà tư sản cũng quan trọng không kém những yếu tố khác trong quá trình sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ. Và vì thế, về mặt đạo đức, phần lợi nhuận mà nhà tư sản giữ lại cho bản thân là hoàn toàn chính đáng. Nếu không có nhà tư sản, những người chủ doanh nghiệp, những người lao động mà đại đa số không muốn phải nhận lấy rủi ro tài chính khổng lồ đó, sẽ thất nghiệp hoàn toàn.

Bởi vậy, trái ngược với quan điểm rằng mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản là hoàn toàn tự nhiên của Marx, điều ngược lại mới là đúng. Người lao động có lợi ích trong sự thành công và mở rộng quy mô của doanh nghiệp. Đó mới là thứ đảm bảo công ăn việc làm và một mức lương cao hơn. Thậm chí, người lao động còn có lợi ích trong sự thành công và mở rộng của cả những doanh nghiệp khác, bởi vì càng nhiều doanh nghiệp canh tranh về nguồn lao động, người lao động càng được lợi.

Thế nên là, cứ ăn mừng tưởng niệm Marx đi, cánh tả. Nhưng hãy để những ý tưởng sai lầm và phá hoại của ông ta vào thùng rác của lịch sử.

 

Nguồn: https://www.fff.org/2018/05/14/marxs-fallacious-exploitation-theory/

 

Về tác giả: Jacob G. Hornberger

Là người sáng lập và chủ tịch của Quỹ tài trợ Tương lai của Tự do (Future of Freedom Foundation – FFF). Ông sinh ra và lớn lên ở Laredo, Texas, và được trao bằng cử nhân Kinh tế học ở Học viện Quân sự Virginia và bằng Luật ở Đại học Texas. Ông từng làm ủy viên công tố 12 năm ở Texas và đồng thời là giáo sư kiêm nhiệm dạy Luật và Kinh tế học ở Đại học Dallas. Năm 1987, ông ngừng hành nghề luật, chuyển sang làm giám đốc các chương trình ở Quỹ tài trợ Giáo dục Kinh tế học (FEE). Ông đã quảng bá cho lý tưởng tự do và thị trường tự do trên nhiều đài truyền thanh trên khắp nước Mỹ, cũng như trên show truyền hình của Neil Cavuto và Greta van Susteren trên kênh truyền hình Fox News; là nhà bình luận thường xuất hiện trên chương trình Freedom Watch của Thẩm phán Andrew Napolitano.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here