Quyền Im lặng, Nguyên tắc Miranda

Bé Nhật Linh bị sát hại ở Nhật và quá trình điều tra đang gặp trở ngại do nghi phạm vẫn kiên quyết áp dụng quyền im lặng – một quyền hiến định trong hệ thống luật pháp Nhật Bản, và cũng đang được áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Ta cũng có thể bắt gặp điều này trong nhiều bộ phim hành động của Mỹ, trong mỗi tình huống cảnh sát bắt giữ tội phạm, khán giả đều nghe thấy câu nói rất quen thuộc: “Anh có quyền giữ im lặng. Bất cứ điều gì anh nói sẽ là bằng chứng chống lại anh trước tòa…”. Đây chính là “lời cảnh báo Miranda” mà tất cả người thực thi pháp luật tại Mỹ buộc phải đọc cho nghi phạm nghe trước khi tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự. Nghi phạm phải được thông báo anh ta có quyền tư vấn và có luật sư ở bên cạnh trong khi thẩm vấn. Để rồi nguyên tắc Miranda bảo vệ quyền được im lặng của người bị bắt giữ đã trở thành một điểm đặc trưng trong “văn hóa hành pháp” của nước Mỹ và được nhân rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới.

Vậy Nguyên tắc Miranda chính xác là gì? Nguồn gốc, ý nghĩa cùng những tác động của nó đến quá trình điều tra và xét xử tội phạm ra sao?

Ở bài viết đầu tiên về chủ đề này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về nguồn gốc ra đời của Nguyên tắc Miranda.

Nên biết, từ trước khi nguyên tắc nổi tiếng này ra đời, quyền im lặng đã tồn tại trong luật pháp nước Mỹ. Nhưng thật ra, khái niệm “quyền được im lặng” không phải là ý tưởng đầu tiên của người Mỹ mà nó được khai sinh bởi người Anh với tuyên ngôn kinh điển “không một ai phải tự kết tội mình cả”. Quyền này được quy định lần đầu tiên trong Bộ luật Dân sự của nước Anh vào thế kỷ 17, sau cuộc Cách mạng Nghị viện nhằm bảo vệ nhân quyền cơ bản, chống lại những bất công trong quá trình xét xử của bộ máy hành pháp phong kiến thời bấy giờ, dựa trên nền tảng của Đại Hiến chương Magna Carta huyền thoại có từ hơn 450 năm về trước (năm 1215). Trước khi Bộ luật Dân sự này ra đời, các “tội phạm” đều buộc phải tuyên thệ “nói sự thật” trước quá trình tra khảo mà không biết mình sẽ bị kết tội gì. Hệ quả là dẫu cho có bị ép cung và lời khai không đúng sự thật, các nghi can vẫn bị khép tội và tống vào ngục tối. Các nhà lập pháp Hoa Kỳ sau đó đã lấy cảm hứng và tham khảo từ Đại Hiến chương Magna Carta để đưa quyền được im lặng vào Tu chính án thứ năm (được Quốc hội Mỹ phê chuẩn vào năm 1791), trong đó nêu rõ:

“Không người nào bị buộc phải trả lời về một tội có mức án tử hình hoặc một trọng tội nào khác, nếu không có một cáo tội trạng hay tố cáo trạng do một đại bồi thẩm đoàn đưa ra, ngoại trừ trong các trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân, hoặc trong hàng ngũ dân quân, khi đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc khi có nguy hiểm cho quần chúng; và không người nào phải bị xử hai lần cho cùng một tội có thể đưa đến tử hình hoặc giam cầm; và trong bất kỳ vụ án hình sự nào cũng không phải bị ép buộc làm nhân chứng chống lại chính mình, và không thể bị tước đoạt sinh mạng, tự do, hoặc tài sản, nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng thủ tục quy định của pháp luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng cho mục đích công cộng nếu không được bồi thường thỏa đáng“.

Nói chung, công dân có quyền không tự thú hay đưa ra lời khai khi bị bắt giữ. Tuy nhiên, phải đến khi nguyên tắc Miranda xuất hiện thì quyền này mới được thực thi một cách phổ quát và rộng rãi tại nước Mỹ.

Nguyên tắc Miranda xuất phát từ vụ án Miranda kiện chính quyền bang Arizona đã bắt giữ và lấy lời khai của ông nhưng lại không thông báo cho Miranda biết về quyền được im lặng của mình. Vụ bắt giữ và xét xử ông Miranda diễn ra vào tháng 3-1963, khi ông bị cáo buộc đã tấn công và hiếp dâm một phụ nữ tại thành phố Phoenix. 10 ngày sau khi vụ tấn công diễn ra, cảnh sát đã bắt giữ Miranda dựa trên xác nhận của nạn nhân. Vào thời điểm đó, Miranda từng có tiền án trộm cắp, cố ý hành hung và cưỡng hiếp, từng bị bắt 6 lần và ngồi tù 4 lần.

Ngày 15/3/1963, tại phiên tòa sơ thẩm, cảnh sát địa phương đã cung cấp một bản tự thú về hành vi phạm tội của Miranda. Đoạn cuối của tờ khai ghi rằng: “Lời tự thú của nghi can được đưa ra là hoàn toàn tự nguyện, không bị đặt dưới bất kỳ mối đe dọa nào và Miranda đã biết về các quyền mà mình được hưởng, cũng như ý thức được rằng lời khai của mình sẽ là bằng chứng trước tòa.”. Thế nhưng phần nội dung này của tờ khai lại được đánh máy sẵn, trong khi lời khai của thủ phạm lại được viết tay. Moore, vị luật sư già 73 tuổi được chỉ định bào chữa cho Miranda, lập luận tại phiên tòa: “Vì Miranda không được cho biết về quyền của anh ta, cho nên, bản nhận tội kia không hoàn toàn là tự nguyện. Bởi vậy, nó mất hiệu lực.”. Lập luận của luật sư bị bác bỏ, Miranda bị kết án 20 năm tù vì tội bắt cóc, 30 năm tù vì tội hiếp dâm. Dù luật sư đã chống án lên Tòa Tối cao bang Arizona nhưng Tòa vẫn tuyên y án, cuộc chiến tiếp tục lên đến Tối cao Pháp viện Mỹ, nhưng do Luật sư Moore không đủ sức khỏe nên một luật sư hình sự khác là John.F. Lyn cùng đồng sự John P.Frank tình nguyện bào chữa cho Miranda theo đề nghị của tổ chức ACLU.

Tại phiên tòa năm 1966, theo quan điểm của “phe đa số” trong Tối cao pháp viện Mỹ được Chánh án Early Warren tuyên đọc, kết luận rằng cuộc thẩm vấn của cảnh sát đối với Miranda trong lúc đang tạm giữ ông ta mang tính cưỡng ép, bức cung, căn cứ vào Tu Chính Án Số 5 (về việc khai báo có hại cho mình) và Tu Chính Án Số 6 (về quyền có luật sư) của Hiến pháp Mỹ, thì mọi lời khai của nghi phạm khi không có ý thức về quyền của mình đều không được chấp nhận.

Chánh án Earl Warren phát biểu:“Trước khi bị thẩm vấn, người bị tạm giam phải được thông báo rõ ràng rằng anh ta có quyền im lặng và bất kỳ điều gì anh ta nói đều sẽ được sử dụng làm bằng chứng chống lại anh ta trước tòa. Anh ta phải được thông báo rõ ràng rằng anh ta có quyền tham vấn luật sư và quyền được có luật sư ở bên cạnh trong suốt quá trình thẩm vấn, và nếu anh ta là người nghèo thì sẽ có một luật sư được chỉ định để đại diện cho anh ta”.

Với kết quả bỏ phiếu năm thuận và bốn chống, Tối cao pháp viện quyết định bãi bỏ bản án của Miranda. Phán quyết của Tối cao pháp viện cũng đồng thời bổ sung vào luật pháp Mỹ khái niệm nguyên tắc Miranda. Theo nguyên tắc này, để tránh tình trạng bị ép cung, mọi đối tượng bị bắt giữ buộc lực lượng chức năng phải thông báo cho người bị bắt giữ về quyền được giữ im lặng của mình trước khi tiến hành lấy cung. Nếu như nguyên tắc này không được thực hiện, lời khai của nghi can sẽ không được sử dụng như một bằng chứng trước tòa mà chỉ hỗ trợ cho quá trình điều tra.

Riêng về vụ án Miranda thì công lý sau đó vẫn được thực thi, nhưng theo một cách khác, khi nhà chức trách bang Arizona cuối cùng cũng đã đưa ra được những chứng cứ và nhân chứng khác để khép tội kẻ thủ ác. Lần này Miranda đã không trốn khỏi “lưới trời” và bị kết án 11 năm tù giam. Điều đáng nói là sau khi ra tù, Miranda bị giết trong một cuộc ẩu đả bởi một con dao ở quán bar, cảnh sát đọc lời cảnh báo Miranda cho người giết ông – kẻ này cũng áp dụng quyền im lặng và từ chối không nói gì!

Năm 2000, Tối cao Pháp viện giải quyết về vấn đề Nguyên tắc Miranda còn có hiệu lực hay không do Đạo luật Kiểm soát Tội phạm và Đường phố An toàn năm 1968. Với đa số 5–4, tòa án giải quyết rằng nó vẫn có hiệu lực, vì Nguyên tắc Miranda đã tạo ra một quy định hiến pháp mà chỉ có tòa án (hay một tu chính án hiến pháp) có khả năng hủy bỏ.

Nội dung Nguyên tắc Mirada được thông báo như sau: 

“Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa. Anh có quyền có luật sư trước khi khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi cảnh sát thẩm vấn anh. Nếu anh không thể tìm được luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư trước khi trả lời các câu hỏi. Anh có thể trả lời câu hỏi khi không có luật sư, nhưng anh vẫn có quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư”.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here