Sau khi tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa của Nguyên tắc Miranda (quyền im lặng Miranda), một câu hỏi phổ biến được đặt ra là: “Liệu quyền im lặng Miranda có gây khó khăn cho các điều tra viên? Liệu “bọn tội phạm” có lợi dụng nó để gây cản trở hoạt động điều tra?”

Câu trả lời là: Có! Hay ít ra, ông đại biểu Quốc hội VN Đỗ Văn Đương (Đương “rau muống”) sẽ đồng ý mà không chút ngập ngừng: “Quyền im lặng không phải quyền con người (…). Nếu mở rộng quá nhiều quyền dẫn tới tùy tiện thì lại gây ra nhiều khó khăn, trở ngại cho công tác điều tra, giải quyết vụ án”. Dĩ nhiên là ông ta ngụy biện để nhằm giữ nguyên “quy trình điều tra” hiện thời, hoặc cũng có thể ông ta vô tình đánh giá thấp năng lực điều tra của “cơ quan điều tra giỏi nhất nhì thế giới”!

Nhưng khách quan mà nói, ngay cả những điều tra viên tài giỏi nhất thế giới cũng phải đối mặt với vô vàn thách thức và khó khăn khi nghi phạm kiên quyết thực thi quyền im lặng. Tuy nhiên, như đã nói, điều đó chỉ càng tạo động lực và thôi thúc họ nâng cao kỹ thuật nghiệp vụ điều tra, thu thập chứng cứ để phá án, chứ không phải là dựa vào đó để tước đi nhân quyền cơ bản cũng như quyền bình đẳng trước pháp luật của nghi phạm. “Vừa không để oan sai, vừa không để lọt tội phạm” là một điều lý tưởng mà bất cứ nền luật pháp nào cũng hướng tới để công lý được thực thi một cách trọn vẹn, nhưng nhiều khi phải lựa chọn, nhiều quốc gia tiến bộ thường ưu tiên nguyên tắc: “thà để lọt tội phạm, chứ không để xảy ra oan sai”.

Thế nhưng…

“Quyền im lặng, giống như những thứ xinh đẹp khác ở trên đời, có thể được yêu mù quáng, có thể được theo đuổi với đầy khát vọng, nhưng cũng có thể phải trả giá rất đắt”, đó là lời cảnh báo đầu tiên về hệ lụy của quyền im lặng được đưa ra ở Anh-quê hương khởi thủy của quyền im lặng. Trên thực tế, có những trường hợp mà cái giá phải trả của quyền im lặng là rất lớn. Chẳng hạn, trong những vụ án hình sự nghiêm trọng, có nhiều đối tượng tham gia mà nếu càng sớm khám phá ra manh mối thì càng có cơ hội để ngăn chặn và bảo vệ những người vô tội khác. Hoặc trong trường hợp nghi phạm bị bắt giữ chọn im lặng để đồng bọn có thời gian thực hiện tội ác hay bỏ trốn, gây hậu quả lớn cho xã hội. Nhất là các loại tội phạm nguy hiểm, có tổ chức như khủng bố, mua bán ma túy, cướp của giết người. Thực tế điều tra tội phạm ở các nước đề cao quyền im lặng như Anh, Úc đã chỉ ra rằng, quyền im lặng đã trở thành công cụ của bọn tội phạm chuyên nghiệp chống lại pháp luật. Và họ cũng phải công nhận rằng, trong quá trình đấu tranh với tội phạm, thật khó có thể tưởng tượng làm sao có thể thu thập đủ chứng cứ nếu không sử dụng các kỹ thuật điều tra, xét hỏi dưới nhiều cách thức. Và tương tự, trong nhiều vụ án, không thể nào có một hướng điều tra khi nghi phạm hoàn toàn từ chối giải thích bất kỳ điều gì đã xảy ra.

Và thế là, pháp luật nước Anh đã có những điều chỉnh mức độ áp dụng đối với quyền im lặng một cách thông minh, khi nhận ra sự cản trở của nó đối với quá trình điều tra, và trở thành hình mẫu cho một loạt các quốc gia khác tham khảo. Đến năm 1994, nghị viện nước này đã đưa ra một số giới hạn đối với quyền được im lặng, trong đó quy định tòa án hay bồi thẩm đoàn có quyền đưa ra suy đoán và kết luận nếu như bị cáo không đề cập đến một tình tiết nào đó có thật mà đáng lẽ ra bị cáo hoàn toàn có thể nhắc đến nếu được hỏi, cho phép cơ quan tố tụng, trong những trường hợp cụ thể, có thể xem xét sự im lặng như một bằng chứng của có tội. Những nhận định trên được rút ra từ thực tế rằng: mặc dù không có một quy định bắt buộc trực tiếp nào, nhưng có một ràng buộc gián tiếp yêu cầu nghi phạm phải cung cấp chứng cứ. Ràng buộc đó xuất phát từ điều 34-Hậu quả của việc không cung cấp lời khai khi được hỏi hoặc yêu cầu, Luật Tư pháp hình sự Anh năm 1994. Điều luật này nêu rõ:

“1. Trong bất kỳ giai đoạn nào của thủ tục tố tụng đối với một tội phạm, nếu có cơ sở cho rằng, nghi phạm:
(a) Vào bất kỳ thời điểm nào trước khi bị buộc tội, khi được hỏi một cách cẩn trọng bởi điều tra viên về việc có hay không hoặc ai đã thực hiện tội phạm, mà không cung cấp bất kỳ lời khai chính xác nào dựa vào đó bào chữa cho mình trong quá trình tố tụng, hoặc
(b) khi đang bị cáo buộc phạm tội hoặc chính thức thông báo có thể bị truy tố, không cung cấp bất kỳ lời khai chính xác nào về những sự thật mà tại thời điểm được hỏi có thể suy luận hợp lý rằng nghi can sẽ khai báo khi được hỏi, yêu cầu hay thông báo.
Thì: Trong quá trình xác định rằng liệu nghi phạm có tội hay không, có thể được sử dụng trong những suy luận buộc tội nếu phù hợp”.

Thêm vào đó, điều 36 và 37 của luật này cũng yêu cầu nghi phạm phải giải thích cho sự tồn tại của những vật, chất đáng nghi, những dấu vết trên cơ thể vào thời điểm bị bắt hoặc sự hiện diện ở một địa điểm đặc biệt nào đó. Nếu tiếp tục thất bại trong việc cung cấp lời khai chính xác, hậu quả pháp lý bất lợi cũng sẽ được đặt ra.

Như vậy, những hạn chế của quyền im lặng đã được người Anh nhìn nhận trong thực tiễn và dẫn đến sự điều chỉnh năm 1994. Những nhà làm luật Anh đã tiếp cận quyền im lặng dưới góc độ: pháp luật hoàn toàn không bắt buộc nghi phạm phải khai báo, nhưng nếu chọn không khai báo thì sẽ phải chịu những suy luận bất lợi trong quá trình luận tội. Quy định này ưu việt ở chỗ, nó đảm bảo cho người vô tội có quyền im lặng để tránh tự buộc tội chính mình. Tuy nhiên, nó cũng như một áp lực vô hình không thể chối bỏ đối với nghi phạm, vì dù có tội hay không có tội, cũng sẽ phải khai hết những gì mình biết, bởi nếu không khai hoặc khai sai sự thật sẽ là một căn cứ để xác định có tội trong phiên tòa. Lời khai đó sẽ là cơ sở quan trọng cho cơ quan điều tra trong quá trình tìm hiểu sự thật và ngăn chặn hành vi tội phạm, thậm chí là chứng minh vô tội cho người bị bắt giữ.

Tại Úc cũng tồn tại nhiều ý kiến trái chiều về việc nên hay không giảm mức độ áp dụng quyền được im lặng trong pháp luật nước này. Theo chủ tịch Hiệp hội Cảnh sát bang New South Wales, việc trao cho đối tượng quyền giữ im lặng trong quá trình chất vấn “làm giảm đi sức mạnh” của luật pháp, tạo ra những “vùng xám” trong quá trình điều tra và tạo cơ hội cho giới tội phạm thoát tội.

Ngay cả ở Mỹ, nơi mà quyền im lặng được đề cao một cách đặc biệt, tòa án cũng đã dần dần sử dụng cách tiếp cận (như của Anh) trong một số vụ án đáng chú ý như: Salinas v. Texas (2013) hay People v. Tom (2014). Trong đó, sự im lặng đáng nghi ngờ được sử dụng như một bằng chứng buộc tội đối với nghi phạm.

Nói tóm lại, việc nhìn nhận những hạn chế từ thực tiễn điều tra tội phạm và điều chỉnh hoàn thiện quy định quyền im lặng là một bước phát triển tự nhiên và cần thiết trong hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, phải đặt quyền này trong những quy định ràng buộc khác mà pháp luật Anh là một ví dụ điển hình, đảm bảo nhân quyền, tránh oan sai nhưng cũng không để tội phạm sử dụng nó như một công cụ chống lại pháp luật.

—————————–
Tham khảo:
1. Does Miranda right protect innocent or guilty
2. Right to silence in England and Wales

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here