Nền dân chủ

Trong số các triết gia, Socrate là người đầu tiên đứng lên chỉ trích nền dân chủ.

Sống vào thời đại cực thịnh sang đến thời suy tàn của nền dân chủ, Socrate cho rằng chính nền dân chủ của Athens làm suy yếu sức mạnh của nó so với Sparta. Tất cả công dân của Athens đều được tham gia vào Hội Đồng Công Dân hàng năm, công dân nào cũng có quyền được bầu và ứng cử vào các tổ chức chính trị mà hội đồng này bầu ra, như Tòa Án, Hội Đồng 500, Hội Đồng Tướng Lãnh, mà những công dân này, hầu hết là nông dân, thợ thủ công – những kẻ không có đức hạnh và thiếu hiểu biết về chính trị; họ lại dễ dàng bị mua chuộc bởi những người giàu có. Những người này khi được bầu vào Hội Đồng 500 hay tham gia viết luật hoặc xử án, sẽ làm sai lệch công lý.

Việc chỉ trích này của Socrate đã tác động đến suy nghĩ của nhiều người dân Athens, đặc biệt là giới thanh niên. Chính vì điều này mà những người cầm quyền lúc đó cho rằng Socrate là kẻ nguy hiểm phá hoại nền dân chủ Athens, họ đã xét xử ông bằng cuộc bỏ phiếu của Hội Đồng, và giết chết ông bằng cách ép uống thuốc độc.

Plato, một trong các thanh niên chịu ảnh hưởng của Socrate, cũng trở thành nhà triết gia lớn sau Socrate chỉ trích về nền dân chủ. Ông cho rằng chính trị là việc phức tạp nên để những người có đức hạnh, năng lực chuyên môn đảm nhiệm hơn là để cho tầng lớp thợ thuyền tham gia vào.

Voltaire là nhà tư tưởng lớn của Pháp thế kỷ 18, có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc cách mạng Pháp năm 1789, nhưng ông cũng là một khuôn mặt chỉ trích nền dân chủ rất mạnh.

“Dân chủ là sự trải rộng cái ngu của quần chúng”

Câu nói này thể hiện sự bi quan về năng lực chính trị của quần chúng nhân dân. Voltaire đặt niềm tin của mình vào sự lãnh đạo của giới trí thức và quý tộc.

Không chỉ Socrate, Plato hay Voltaire, mà có nhiều nhà tư tưởng, triết gia, chính trị gia mất niềm tin vào nền dân chủ, nhưng liệu điều đó có đúng?

– Cộng hòa Athens là nền dân chủ sớm nhất và đúng nghĩa dân chủ trực tiếp nhất, mọi việc đều được giải quyết bởi toàn thể mọi người thông qua bỏ phiếu. Tuy nhiên sự thay đổi nhanh chóng theo số đông và theo mỗi kỳ họp của Hội Đồng làm cho luật lệ và xu hướng chính trị của Athens luôn thay đổi. Dần dần, kể từ thời cải cách của Solon, chính trị Athens bị suy thoái; những kẻ không có đức hạnh và năng lực trở thành chính trị gia, họ làm suy yếu sức mạnh của Athens từ bên trong và tiếp tay cho sự thất bại trước sức mạnh quân sự của Sparta.

– Nền Cộng Hòa La Mã sau đó, đã rút ra được những bài học từ Athens. Sự phân chia quyền lực chính trị của người La Mã phức tạp và chuyên biệt nhiều hơn. Mô hình tam quyền phân lập hoạt động đúng nghĩa gồm lập pháp, tư pháp và hành pháp. Với mô hình này nền Cộng Hòa La Mã đã khắc phục được khuyết điểm dân chủ trực tiếp của Athens, hạn chế quyền lực rơi vào tay những kẻ kém năng lực.

Xã hội được cai trị bởi luật pháp, theo nguyện vọng của đa số, đó là một thành tựu vĩ đại của 2 nền dần chủ này.

Thế nhưng lấy gì để đảm bảo được những bộ luật của hội đồng lập pháp đưa ra đều là bộ luật tốt?

Liệu hội đồng này có thể làm ra những bộ luật tồi theo nguyên tắc đa số, và trong trường hợp như thế, làm thế nào để ngăn chặn được?

Đây là khuyết điểm lớn mà 2 nền dân chủ cổ đại không thể khắc phục được, và cũng là nguyên nhân sụp đổ của các nền dân chủ này. Mãi đến tận thời kỳ Phục Hưng, chủ nghĩa hiến pháp xuất hiện ở Anh thì khuyết điểm này mới được khắc phục.

– Nhờ kế thừa sự kết hợp giữa triết học Hy Lạp và thần học Ky-Tô Giáo trước đó của Thomas Aquinas, các cuộc tranh luận về tự do của Thomas Hobbes, John Locke, David Hume đã đặt nền tảng cho chủ nghĩa hiến pháp Anh dựa trên nguyên tắc:
Cơ quan lập pháp làm ra luật để hướng dẫn người dân, và những bộ luật này, được hướng dẫn bởi một qui tắc cao hơn chính cơ quan làm luật, đó là Hiến Pháp.

Như vậy sự kết hợp giữa ý chí tự do, nhân phẩm của thần học Ky-tô Giáo và những tư tưởng về bình đẳng, phân chia quyền lực của triết học Hy Lạp đã đặt nền móng cho một nền văn minh mới – nền văn minh được hướng dẫn bởi hiến pháp.

– Tương tự với trường phái tự do Anh, các nhà tư tưởng thời phục hưng Pháp cũng say mê các giá trị dân chủ của Hy-La, điển hình là Jean Jacques Rousseau, và họ cũng say mê luôn cả khuyết điểm của 2 nền dân chủ cổ đại này: đó là chân lý đến từ đám đông.

Mặc dù chủ nghĩa hiến pháp từ Anh đã lan rộng ra toàn Châu Âu lúc đó, nhưng cuộc cách mạng dân chủ Pháp năm 1789 cũng đã gây ảnh hưởng lên toàn Châu Âu, kể cả Anh, để rồi, sự pha trộn giữa 2 truyền thống tự do Anh – Pháp này đã làm nền dân chủ Châu Âu lệch tả: Xã hội được hướng dẫn bởi hiến pháp, nhưng những nguyên tắc của hiến pháp lại không phải là giá trị vĩnh cửu như thần học Ky-Tô Giáo đòi buộc. Thay vì chọn tự do, người Pháp đã ưu tiên cho sự bình đẳng.

– Bên kia đại tây dương, những học trò xuất sắc của truyền thống Anh đã đưa nước Mỹ tránh khỏi sự ảnh hưởng của tư tưởng Pháp, họ đã xây dựng nên bản Hiến pháp vĩ đại đúng với ý nghĩa lúc đầu mà Hobbes, Locke, Hume đã thảo luận:
Dân chủ chỉ là phương tiện, tự do mới là mục đích.

– Quay trở lại với câu hỏi về mặt trái của nền dân chủ, Socrate đã đúng khi nói về đám đông. Đám đông thì ngu dốt, duy cảm xúc và hành động theo động cơ, nhưng nền dân chủ thì không. Socrate đã sai khi nói về nguyên tắc đa số. Người ta chỉ ủy quyền cho đa số, bởi vì họ thấy những quyết định của đa số có vẻ đúng, nhưng không phải luôn luôn đúng. Và để biết được một quyết định của đa số đúng hay sai, cũng như cách khắc phục khi đa số chọn sai thì chỉ có tự do. Đúng vậy, chỉ có tự do mới là mục đích theo đuổi của một nền dân chủ, và nền dân chủ phục vụ tự do mới là một nền dân chủ đúng nghĩa.

Nếu bạn là một người cánh hữu, bạn phải hiểu rõ điều này để chặn đứng những kẻ độc tài đang xuyên tạc về nền dân chủ và tự do. Tương lai của Việt Nam phụ thuộc vào việc thế hệ này có nhìn nhận đúng về giá trị của tự do và dân chủ hay không.

Sĩ Vệ @Viet Conservative & Classic Liberal

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here