Bẩm các cụ là tôi thấy cái kiểu dạy sử nước Việt ta thực sự có một không hai. Trong khi thế giới người ta cố xây dựng hình ảnh quốc gia trong quá khứ thật hoành tráng, kỳ vĩ thì sách giáo khoa xứ ta lại nhồi vào đầu học sinh hình ảnh một quốc gia… yếu đuối, hiền lành, nhược tiểu. Suốt ngày bị Tây – Tàu hiếp, hàng ngàn năm chỉ biết chống đỡ, du kích, khởi nghĩa, chiến thắng quân xâm lược bla bla…và lờ tịt đi hoặc đề cập rất sơ sài đến những lần cha ông… kéo quân đánh nước khác <== Ơ thế hóa ra nước Việt ta hồi xưa vốn dĩ chỉ loanh quanh châu thổ sông Hồng, sông Mã giờ vươn tới tận Cà Mau (có diện tích đứng thứ 65/194 thế giới) là do…các nước láng giềng người ta tự đem đất đến tặng à? =))

Phương pháp dạy sử thiên lệch kiểu này không những phi khoa học, vô ơn với công lao mở cõi của tiền nhân mà, nguy hiểm hơn, đã vô tình tạo ra một tâm lý, một ấn tượng “nước ta là quốc gia nhược tiểu” rất sâu đậm trong suy nghĩ của phần lớn người Việt ==> tâm lý này dễ dàng dẫn đến não trạng nô lệ, vong nô, vọng ngoại ==> họa mất nước lần nữa là từ đây chứ đâu?

Nói nhanh cho nó vuông, trong lịch sử thế giới, chả có quốc gia, dân tộc nào “hiền lành”, “yêu hòa bình” mà tồn tại được đến giờ cả! Cái đấy là chọn lọc tự nhiên rồi: tất cả các bộ lạc, các tập thể, các cộng đồng hay các quốc gia “hiền lành”, “yêu hòa bình” đều đã…biến mất vì bị tụi hổ báo, máu chiến, tham lam, đẻ nhanh hơn làm thịt! Nước Việt ta cũng vậy, “hiền lành”, “yêu hòa bình” thì giờ chả có tên trên bản đồ thế giới rồi. Thống kê những lần các cụ nhà ta vác quân đi tẩn hàng xóm nhé:

1 – Tẩn Tàu: Tàu là cường quốc ở tầm cỡ thế giới suốt nhiều ngàn năm nay, khỏi phải bàn cãi. Sau hơn 2000 năm chạm trán, ta mất cho Tàu kha khá đất. Tuy vậy, người Việt vẫn tạo được 1 kỳ tích: là láng giềng duy nhất chưa bị người Hán đồng hóa – xuôi cũng như ngược (các ông khác như Đại Lý, Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Tây Hạ, Mãn Châu, Khương, Hồ, Hung Nô giờ đều đã thành 1 tỉnh của Tàu) <== cha ông ta mà “hiền lành” thì Tàu nó nuốt lâu rồi! So với độ 30 lần nước Việt ta bị Tàu sang đánh thì ta cũng sang đánh Tàu sơ sơ … 15 lần:

– Thời tiền Lê: trong 1 năm, bem luôn 2 lần

+ Năm 995, cụ Lê Đại Hành cùng hơn 100 chiến thuyền của Đại Cồ Việt đã tiến sang bờ biển nước Tống, đánh vào trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu.

+ Đến mùa hè năm 995, đội hương binh 5.000 người ở châu Tô Mậu (Lạng Sơn) của Đại Cồ Việt lại tấn công vào Ung Châu rồi lui binh.

– Thời Lý: các cụ nhà ta đánh Tàu 5 lần, dọn thành Ung Châu 58,000 người.

+ Năm 1022: vua Lý Thái Tổ đã sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh giặc Đại Nguyên Lịch bên Tàu.

+ Năm 1052: thủ lĩnh người dân tộc Tày, Nùng là Nùng Trí Cao đưa quân vượt biên giới đánh Tống chiếm được nhiều châu quận.

+ Năm 1059: vua Lý Thánh Tông cho quân đánh Khâm Châu nước Tống.

+ Năm 1060: châu mục Lạng Châu là Thân Thiệu Thái đánh vào đất Tống nhằm cứu dân Việt bị bắt trở về.

Năm 1076: thấy quân Tống chuẩn bị đánh Đại Việt, tập kết quân lương ở Ung Châu, cụ Lý Thường Kiệt cùng Tôn Đản chia đường thủy bộ tiến đánh vào Khiêm Châu và Liêm Châu của nhà Tống. Ngày 1.3.1076, thành Ung Châu bị hạ sau 42 ngày cố thủ. Số người trong thành Ung Châu bị giết lên đến 58,000 người <– vãi hiền ?

– Thời nhà Trần: 6 lần đem quân sang hỏi thăm Tàu

+ Năm 1241, nhiều toán cướp từ đất Tống thường quấy nhiễu biên giới, vua Trần Thái Tông sai đốc tướng Phạm Kính Ân đem quân vượt biên giới đánh vào hang ổ quân cướp rồi rút về.

+ Cũng năm 1241 đích thân vua Trần Thái Tông đánh sang đất Tống, tấn công nhiều châu, trại.

+ Đến năm 1242, biên giới có biến, tướng Trần Khuê Bình vượt biên đánh vào lộ Bằng Tường của nước Tống để dẹp loạn.

+ Năm 1266 thủy binh Đại Việt đánh đến tận núi Ô Lôi (Quảng Đông) trong đất Tống nhờ đó phát hiện quân Nguyên có kế hoạch đánh Đại Việt.

+ Năm 1285 lúc này quân Mông Cổ chiếm được Trung Quốc lập ra nhà Nguyên và đưa quân đánh Đại Việt nhưng thua trận phải rút về. Quân Việt truy kích đuổi theo tràn qua cả biên giới vào sâu trong lãnh thổ quân Nguyên ở Vân Nam và Tư Minh.

+ Năm 1313 quân Việt tiến đánh nhà Nguyên ở Vân Động, châu Trấn Yên, sau đó tấn công các xứ Lôi Động, Tri Động và châu Quy Thuận, Dưỡng Lợi. Nhà Nguyên phải cho sứ đến thương lượng quân Đại Việt mới rút lui.

– Thời hậu Lê: phát huy truyền thống đánh Tàu, các cụ cũng sang bên đó 2 lần.

+ Năm 1438, thổ quan châu Tư Lang của Đại Việt đem quân đánh hai châu An Bình và Tư Lăng (nay thuộc Quảng Tây), vua Minh phải sai sứ sang nước ta thương thuyết.

+ Năm 1480, tổng binh tri Bắc Bình của Đại Việt là Trần Ao sai Đào Phu Hoán đem 600 quân đánh vào Cảm Quả, chiếm được ải Thông Quang (thuộc Quang Lang, Ôn Châu, Trung Quốc) rồi tiến vào Ban Động.

2 – Tẩn các nước Đông Nam Á: cha ông ta lúc nào cũng thuộc top hổ báo của Đông Nam Á, sau rất nhiều trận chiến các cụ đã nuốt gọn nước Chăm, chén của Đại Lý, Lào kha khá đất, mượn tay Mạc Cửu (người Hoa chạy nạn) nuốt 1/3 nước Cam, thời Minh Mạng suýt nuốt xong cả nước Cam (Tây lông mà suất hiện muộn độ 1-2 trăm năm nữa thì có lẽ nước Cam sẽ theo chân nước Chăm rồi). Thống kê các lần cha ông ta động binh với các láng giềng phía Nam và phía Tây thì…dài lắm, gộp chung với từng nước cho nhanh:

– Với Chăm Pa: ông bạn này (tất nhiên) cũng không hiền lành gì, thời Việt là xứ Giao Chỉ phải làm culi cho Tàu thì Chăm (thời đó là Lâm Ấp) còn mạnh hơn Việt, lâu lâu Lâm Ấp sang cướp phá, Giao Chỉ còn phải cầu viện trung ương (là Tàu) sang cứu.

Tình cảnh bắt đầu đổi thay từ khi cụ Ngô Quyền lấy lại giang sơn: nước Việt càng ngày một mạnh hơn và chiến tranh Việt-Chiêm ngày càng dữ dội.

Thời Lý và đầu thời Trần thì Việt có vẻ chiếm ưu thế, chén được khá nhiều đất và bắt nhiều người Chăm sang làm nô lệ.

Đến cuối thời Trần, Đại Việt suy yếu thì Chăm lại có minh quân là Chế Bồng Nga: quân Chăm chiếm được Thăng Long đến 4 lần, vét sạch của cải và…phụ nữ, vua Trần Duệ Tông sang đánh Chăm cũng tử trận ở Đồ Bàn (trận này Lê Quý Ly – sau này là Hồ Quý Ly – bỏ vua bị vây khốn mà chạy rẽ đất). May cho Đại Việt là trong trận Hải Triều năm 1390, cụ Trần Khát Trân nhờ có tay trong chỉ điểm đã giã pháo đúng thuyền của Chế Bồng Nga và giết được ông này. Sau giai đoạn đó cả 2 bên đều kiệt quệ, tạm ngừng việc binh. Tuy nhiên tính tổng lại thì Việt vẫn chiếm được thêm nhiều đất của Chăm, Chăm về cơ bản chế độ xã hội lỏng lẻo, dân số tăng chậm, đánh thắng được Việt mấy lần cũng chỉ cướp phá rồi về chứ không chiếm được tẹo đất nào.

Đến thời Hoàng đế Lê Thánh Tông thì Đại Việt đạt đến đỉnh cao, nhân vụ Trà Toàn (vua Chăm) quấy phá vùng biên + cầu viện nhà Minh ==> Lê Thánh Tông phát động một cuộc chinh phạt Chăm cực kỳ công phu, hoành tráng: huy động 25 vạn quân thủy bộ, tung gián điệp khảo sát vẽ lại bản đồ nước Chăm, ngài còn soạn cuốn Bình Chiêm Sách viết về 10 lẽ tất thắng và 3 việc đáng lo (bây giờ gọi là SWOT Analysys) ==> nước Chăm bị giáng một đòn khủng khiếp: 60.000 người bị giết, hàng chục ngàn khác bị bắt làm nô lệ, đất nước mất nửa diện tích, nửa còn lại bị chia 3 ==> nước Chăm từ đó không bao giờ gượng dậy được nữa, mãi mãi lệ thuộc Đại Việt và biến mất dần khỏi bản đồ. <– Vãi hiền lần thứ 2 ?

– Với Ai Lao – Lão Qua – Bồn Man (Lào ngày nay): quan hệ Việt – Lào nhìn chung cũng không nồng thắm gì, tuy nhiên cái xứ Lào toàn rừng với núi ==> các bộ tộc Lào tìm cách ngừng đánh lẫn nhau để đi đến thống nhất đã đủ oải rồi nói gì đến chuyện đi cà khịa nước Việt. Trái lại, người Việt cũng không mặn mà gì với cái xứ Lào rừng rú ==> phần lớn thời gian Lào chấp nhận dưới cơ, thần phục cả Việt lẫn Tàu. Chỉ có đôi lần nhân lúc Việt yếu + được Tàu bơm đểu ==> Lào xua quân sang đánh phá Việt. Và người đã chấm dứt tình trạng bị Lào “dầu nhờn”, quấy nhiễu này một lần và mãi mãi cũng lại chính là Hoàng đế Lê Thánh Tông vĩ đại. Năm 1478 ngài phát động một chiến dịch chinh phạt có lẽ là lớn nhất trong lịch sử nước Việt: 23 vạn quân Đại Việt đã cân liên minh đến từ 4 nước bao gồm Lan Xang, Bồn Man, (Lào ngày nay), Lan Na, Bát Bách Tức Phụ (bắc Thái Lan ngày nay), đại quân đã tiến đến tận bờ sông Ava (Miến Điện) ngày nay, quân dân 4 nước kia bị thảm sát đến mức dân Lào giờ nhắc lại vẫn còn kinh <– vâng, tôi xin vãi hiền lần thứ 3 ?). Kết thúc chiến dịch, tiếng tăm Đại Việt vang lừng Đông Nam Á, bốn phương chiều cống, nhà Minh cay mũi lắm nhưng cũng đành ngậm bồ hòn làm ngọt.

– Với Cam: xung đột Việt – Cam bắt đầu từ thời Lý, nước Cam thời đó là Chân Lạp (hoặc gọi tên theo thủ đô là Angkor) có diện tích…gấp 10 lần Đại Việt. Chân Lạp đem quân đánh Đại Việt 5 lần thua cả 5, sau đó Chân Lạp kiệt quệ và bị Chăm Pa (với sự giúp đỡ của Đại Việt) đánh cho sấp mặt, kết thúc thời kỳ vàng son rực rỡ nhất của Đế quốc Angkor. Giai đoạn sau đó nước Chân Lạp suy yếu thường thần phục Xiêm La. Đến năm 1807, sau khi vua Gia Long bên ta thống nhất đất nước và lên ngôi, vua Chân Lạp quay sang xin thần phục triều đình Huế thay vì triều đình Xiêm như trước kia. Sang thời Minh Mạng, liên minh Đại Nam – Chân Lạp đã chiến thắng Xiêm La trong cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng tại Chân Lạp. Sau khi đuổi được quân Xiêm, Đại Nam chính thức bảo hộ Chân Lạp. Việc cai trị trong nước Chân Lạp đều do quan Việt sắp đặt, còn triều thần Chân Lạp chỉ kiêm nhiệm việc nhỏ. Đến năm 1836, vua Minh Mạng đổi tên đất Chân Lạp thành Trấn Tây thành, chính thức sáp nhập vào Đại Nam, mỗi lần dân Cam khởi nghĩa là… tắm máu. Chính trong thời gian này, người Cam luôn ghét người Việt, tôi sẽ có một bài viết khác về chuyện này, nhưng thật sự là tôi thấy rất quan ngại về việc người Việt ta vãi hiền ở Cam.

Túm lại cha ông ta mà “hiền lành”, “nhược tiểu” thì giờ không biết là chúng ta đang nói chuyện với nhau bằng tiếng Tàu, Chăm, Lào hay Khơ me nhỉ? Hoặc cũng có thể chúng ta “hiền lành” và “nhược tiểu” nên mới nói tiếng Việt nhưng khi viết lại dùng chữ do ông Tây nào đó sáng tạo ra. =))

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here