Lạm bàn về Tự do

Dân chủ chỉ là phương tiện, tự do mới là mục đích.

Vậy tự do là gì?

Hai nền dân chủ cổ đại là Cộng hòa Athens và Cộng hòa La-Mã đã đề cập đến tự do trong ý nghĩa “công dân tự do”.Thời cổ đại quyền tự do có được nhờ sự kế thừa từ gia đình( công dân tự do được sinh ra từ một công dân tự do), hoặc nhờ mua bằng tiền, bằng chiến thắng trong các cuộc chiến hay bằng sự ban thưởng.

Tự do của một người khi đó là một tình trạng tương đối, thay đổi theo định nghĩa của xã hội, và nó chỉ cần thiết để xác định quyền tham gia chính trị của người đó. Vì tương đối nên khi có tự do, họ trở thành một công dân tốt, còn khi không có tự do, họ là nộ lệ, phải phục vụ những công dân tự do khác. Kể cả Socrate, Plato, Aristotle, Cicero hay các nhà hiền triết khác đều chung tư tưởng về tự do và nộ lệ như thế, và họ coi đó là điều hiển của con người từ trong bản chất.

Các triết gia Hy Lạp không nhấn mạnh vào tự do, mà tập trung vào bình đẳng và chân lý. Theo Socrate, bình đẳng là sự bằng nhau về mọi thứ từ vật chất đến cách hành động. Thực tế xã hội thời Socrate lại không tồn tại sự bình đẳng kết quả như vậy, nên Socrate mới xây dựng ý tưởng về một xã hội lý tưởng, nơi mà mọi người đều có đức hạnh để hành xử và đem lại bình đẳng cho tất cả.

Về chân lý, thời cổ đại chưa có khái niệm này, mà chỉ có khái niệm công lý. Công lý là sự đồng thuận của đa số trong xã hội. Chính Socrate cũng đã nhìn ra được mặt trái của khái niệm công lý khi gán nó cho đa số, đặc biệt là đa số đó lại không có đức hạnh. Ngay cả Aristotle sau này, trong các tác phẩm như Đạo Đức Học và Chính Trị Luận, cũng không giải quyết được bản chất của chân lý, mà chỉ đưa ra những tư tưởng để xây dựng nền chính trị phục vụ con người tốt hơn.

Mọi tư tưởng dừng tại đó, và 2 nền dân chủ Athens, La-Mã cũng kết thúc tại đó, khi mà chân lý vẫn còn nằm ở số đông.

Bước sang kỷ nguyên Ky-Tô Giáo, mọi chuyện đã trở nên khác. Thần học Ky-Tô Giáo nhấn mạnh về con người như sau:

“Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Tạo Hóa, được ban tặng một nhân phẩm và một ý chí tự do, để nhờ ý chí tự do, con người có thể đưa nhân phẩm mình đạt đến viên mãn trong Chân – Thiện – Mỹ của Đấng Sáng Tạo.”

Điều mới mẻ này mà thần học Ky-Tô Giáo đem lại đã làm thay đổi mọi thứ mà các triết gia Hy Lạp đã vật lộn vì chỉ nắm được cái nhìn bên ngoài. Giờ đây mỗi con người được sinh ra, bất kể mọi nơi và mọi thời, đều có một nhân phẩm cao quí, đều có một ý chí tự do mà không có bất cứ ai có thể khuất phục.

Nhân phẩm đòi buộc mỗi con người đều được tôn trọng bình đẳng với nhau, không một ý chí cá nhân hay nhóm nào có thể áp đặt nhằm xóa bỏ nhân phẩm của người khác. Ý chí tự do và hệ quả của nó là quyền tự do, đã trở nên khách quan không phụ thuộc vào định nghĩa của xã hội như thời cổ đại nữa.

Chân lý giờ đây cũng đã trở nên tuyệt đối không còn là sự tương đối mà người cổ đại mơ hồ. Qua sự áp đặt chân lý của Đấng Sáng Tạo, đa số đã không thể dùng quyết định của mình để nô lệ hóa thiểu số. Đúng sai trở nên tuyệt đối đến mức một điều đúng là đúng cho dù ai cũng nói là sai, và một điều sai vẫn là sai cho dù tất cả đều bảo đúng.

Việc bạn phán xét tự do và nhân phẩm của một người thế nào không còn phụ thuộc vào bạn nữa bởi vì có một Ý Chí Vĩ Đại đã áp đặt điều đó trên bạn cho dù bạn có muốn hay không. Sự áp đặt này gắt gao đến nỗi Kant đã gọi là “mệnh lệnh nhất quyết” đòi buộc mọi lý trí có ý chí tự do phải tuân theo, trên cả hai phương diện là đạo đức cá nhân và pháp quyền xã hội.

Quay trở lại nguyên tắc ban đầu “Dân chủ chỉ là phương tiện, tự do mới là mục đích”, tại sao tự do lại là mục đích mà không phải là sự bình đẳng như Socrate hay các nhà tư tưởng Pháp mong muốn?

Nếu một nền dân chủ đặt sự bình đẳng lên trên hết, thì nó lại tạo ra bất bình đẳng lớn hơn. Bởi vì mỗi nhân phẩm trong xã hội đều độc lập và độc đáo, nghĩa là có sự khác biệt giữa mỗi con người, đó chính là sự bất bình đẳng hiển nhiên từ trong bản chất. Khi nền dân chủ đề cao bình đẳng, tức là cố tình xóa bỏ sự khác biệt đó, đồng nghĩa với việc sẽ tạo ra sự ưu ái cho nhân vị này hơn hẳn các nhân vị khác.

Sự bình đẳng mà thần học Ky-Tô giáo nói đến không phải là sự bình đẳng về vật chất hay kết quả, mà là sự bình đẳng về quyền, nghĩa là mọi người đều có quyền sử dụng ý chí tự do được ban tặng để tìm kiếm Chân – Thiện – Mỹ.
Như vậy, từ cái nhìn của triết học Hy-Lạp, qua cái nhìn của thần học Ky-Tô Giáo, chúng ta đã hiểu được bản chất của tự do là gì.

Tự do là khái niệm chung bao gồm: tự do nội tại và tự do ngoại tại.

– Tự do nội tại chính là ý chí tự do trong lý trí và lương tâm, mà mỗi con người đều có. Ý chí tự do cho phép con người hành động hoặc không hành động theo lương tâm và lý trí của mình, đồng nghĩa với việc không hành động theo ý chí của người khác.

– Tự do ngoại tại chính là sự thể hiện ra ngoài việc tôn trọng nhân phẩm bằng hành động của ý chí tự do, cũng như việc chịu trách nhiệm của những hành động đó, mà ta thường gọi là nhân quyền và quyền tự do lựa chọn.

Trong suốt chiều dài lịch sử, từ Đại hiến chương Magna Carta đến Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ 1776, Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948, tự do ngoại tại càng được khẳng định và mở rộng trên nhiều phương diện, và nó còn mở rộng theo thời gian.

Có thể liệt kê cụ thể bao gồm nhưng không hạn chế các quyền tự do ngoại tại sau: Quyền sống, quyền tự do thân thể và tự vệ, quyền tự do tìm kiếm và sở hữu lợi ích kinh tế, quyền tự do tìm kiếm tri thức, quyền tự do hội họp và đi lại, quyền tự do tham gia chính trị, quyền tự do biểu đạt ý kiến, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo.

– Quyền sống, quyền tự do thân thể và tự vệ sẽ bảo vệ người dân trước các bộ luật về an sinh xã hội, hình sự, tố tụng, cưỡng đoạt từ chính quyền, cũng như triển khai các điều khoản về sự tự vệ chính đáng.

– Quyền tự do tìm kiếm và sở hữu lợi ích kinh tế sẽ là cơ sở cho các điều khoản về tư hữu, sự an toàn của tài sản cá nhân cũng như các hợp đồng xã hội.

– Quyền tự do tìm kiếm tri thức sẽ bảo vệ sự áp đặt giáo dục từ chính phủ, các vấn nạn về bạo lực học đường, tự do học hỏi, sáng tạo và theo đuổi ước mơ.

-Quyền tự do hội họp và đi lại bảo vệ sự tự do di chuyển, buôn bán, giao thương, ngăn cản chính sách kiểm soát dân số như hộ khẩu, quyền biểu tình, quyền lập hội.

– Quyền tự do tham gia chính trị sẽ là cơ sở có các quyền bầu cử, quyền tham gia hoặc thành lập đảng phái, ứng cử hay vận động chính trị.

– Quyền tự do biểu đạt ý kiến sẽ bảo vệ người dân trước sự áp đặt của chính phủ, tạo tiếng nói của truyền thông tư nhân nhằm kiểm soát các tổ chức nhà nước, tự do ngôn luận sẽ giúp xã hội phát hiện được cái sai trong lựa chọn của đa số.

– Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo bảo vệ đức tin của người dân, niềm tin vào Thượng Đế, các vị thần cũng như sự hành xử đạo đức theo tín ngưỡng của họ.

Những quyền căn bản này không những ngăn chặn sự xâm phạm giữa các cá nhân với cá nhân, mà còn ngăn chặn những quyết định của đa số nhằm áp đặt chân lý lên một người hoặc một thiểu số nào đó.

Trong phương diện pháp quyền xã hội, nhà nước là thực thể đại diện cho ý chí của đa số, cũng sẽ không thể vi phạm những quyền này của công dân. Như vậy, nền dân chủ theo đuổi tự do ngăn chặn một nhà nước trong giới hạn và mở rộng tự do về phía người dân. Nhờ tự do mà xã hội trở nên sáng tạo và con người trở nên văn minh. Tự do hướng dẫn con người đến với Chân – Thiện – Mỹ, nâng địa vị con người lên trên hẳn con vật và tiến lên phía trước dường như vô tận. Cái giá của tự do là vô cùng lớn mà ta không thể đếm được. Tuy nhiên ta có thể đếm được cái hậu quả khi không có tự do của một nền độc tài toàn trị.

Nếu một hiến pháp được thiết lập để bảo vệ những quyền tự do căn bản, thì các điều luật của lập pháp, các chính sách của hành pháp nếu vi phạm chúng đều bị tư pháp coi là vi hiến, và nền dân chủ xây dựng trên hiến pháp đó mới là nền dân chủ đúng nghĩa và bền vững. Bởi vì, mặc dù thiểu số phục tùng đa số, nhưng nhờ những quyền tự do này mà các quyết định sai của đa số có cơ hội bị đảo ngược, khiến cho tình trạng dịch chuyển về phía sai của nền dân chủ chỉ mang tính tạm thời ngắn hạn chứ không phải dài hạn hay là vĩnh viễn.

Ví dụ, điển hình cho sự bền vững đó là nền dân chủ Mỹ, và điển hình cho việc không thể đảo ngược cái sai của đa số đến mức phải xóa bỏ đó là nền dân chủ Pháp – nay đã là nền cộng hòa thứ 5.

Là một người cánh hữu, bạn nên hiểu về bản chất và cái giá của tự do.

Về chính trị xã hội, khi nói về dân chủ, là phải nói đến tự do, và khi nói đến tự do là nói đến một nhà nước bị giới hạn bởi các quyền tự do của công dân.

Nếu nói đến dân chủ, mà không nói đến tự do, chúng ta có các nhà nước độc tài cộng sản và Hồi giáo: Việt Nam, Trung Quốc, Nga, Iran, Venezuela.

Nếu nói đến tự do mà không nói đến một nhà nước giới hạn, chúng ta có các nhà nước cồng kềnh can thiệp vào đời sống nhân dân, từ kinh tế đến phúc lợi xã hội: Châu Âu, Nam Mỹ.