định luật murphy

Định luật Murphy, còn được nhiều người gọi là “định luật đầu độc” hay “định luật bánh bơ”, do một người Mỹ tên là Edward Aloysius Murphy Jr. nêu ra, sau đó, được nhiều người công nhận rồi lấy tên ông để đặt cho định luật này. Dựa trên “nền tảng của sự ngẫu nhiên”, định luật này được đưa ra, chỉ với một câu ngắn gọn:

Nếu có hai hay nhiều cách để làm một việc gì thì một trong các tình huống có thể đi đến thảm họa thì sự việc thường xảy ra theo chiều hướng đó.

If there are two or more ways to do something, and one of those ways can result in a catastrophe, then someone will do it. 

1. Đại cương về định luật Murphy

Đại Úy Edward A. Murphy Jr. là một kỹ sư cơ khí, phục vụ trong Không lực Hoa Kỳ (Unites States Air Forces). Ngoài ra, ông còn là một triết gia. Những lúc rảnh rỗi khi không có công vụ, ông thường nghiên cứu các môn triết học, thần học, toán học và vật lý cao cấp. Sau một thời gian dài đúc kết kinh nghiệm từ cá nhân mình, thân nhân đến những người quen biết và bạn hữu, ông ta đã công bố định luật này.

Edward Aloysius Murphy Jr. sinh ngày 11.01.1918 tại kênh đào Panama, là con nhỏ nhất trong gia đình có 5 anh chị em. Murphy tốt nghiệp Trung học tại New Jersey, theo học trường Võ bị West Point, tốt nghiệp năm 1940 và đảm nhậm công việc của một sĩ quan cơ khí. Trong Thế chiến thứ 2, Murphy từng tham chiến tại hải ngoại: Ấn Độ, Trung Hoa và Miến Điện trong Lục quân Hoa Kỳ. Murphy phục vụ trong quân ngũ Hoa Kỳ từ nằm 1940 đến 1952, cấp bậc sau cùng là Thiếu Tá trước khi giải ngũ.

Murphy Capt
Chân dung Đại Úy Edward A. Murphy Jr.

Sau khi cởi trả bộ quân phục, năm 1952, Murphy tham gia trong dự án nghiên cứu sức đẩy của hỏa tiễn tại Căn cứ Không quân Holloman rồi đến California tham gia các dự án khác. Tiếp sau đó, ông tham gia vào các nghiên cứu để hoàn thiện các thế hệ phi cơ lừng danh của thế kỷ 20 như F-4 Phantom II, the XB-70 Valkyrie, phi cơ SR-71 Blackbird, phóng pháo cơ B-1 Lancer hay chương trình chế tạo X-15. Thấp niên 1960, ông tham gia vào chương trình Appolo và sau cùng là nghiên cứu thế hệ trực thăng Apache mà Không Quân Mỹ còn dùng đến ngày nay. Ông mất vào ngày 17.7.1990.

2. Định luật Murphy ra đời.

Năm 1947, Murphy làm việc ở Học Viện Kỹ Thuật Không Quân Mỹ (US Air Force Institute of Technology). Tại Trung tâm Wright Air Development Center thuộc Căn cứ Không quân Wright Patternson, vào năm 1949, Murphy được giao nhiệm vụ nghiên cứu trong một dự án quân sự có tên là MX0-981. Đại úy Edward Murphy, Jr. hiểu rất rõ nhiệm vụ của mình mà thượng cấp chỉ thị: “kết thúc một chuỗi thử nghiệm và báo cáo cho thượng cấp về một thiết bị sẽ thiết kế trên những máy bay phản lực thuộc Quân Lực Mỹ”.

Một trong những vấn đề lớn của dự án nói trên là chương trình nghiên cứu hậu quả việc “giảm tốc đột ngột” của động cơ dành cho các loại máy bay phản lực. Để thực hiện điều này, Murphy đã phải làm việc với 16 phi công và gắn trên lưng mỗi phi công tới 15 máy dò. Theo lý thuyết và sau khi chế tạo hoàn tất, các máy này đã được thử, thí nghiệm (test) rất kỹ, tất cả đều hoạt động tốt để đưa vào sử dụng cho cuộc thí nghiệm. Các phi công bị buộc trong xe trượt tuyết gắn động cơ phản lực, khi xe dừng đột ngột, phản ứng của họ sẽ được ghi lại nhờ một hệ thống điện cực gắn vào bộ ghế ngồi do chính Edward A. Murphy thiết kế.
Bình thường, trong nhiều lần ông Murphy làm thí nghiệm với các phi công thì các thử nghiệm đều hoàn hảo, máy móc hoạt động êm xuôi. Thế nhưng vào những ngày có đông đủ các vị “tai to mặt lớn” (thượng cấp) đến dự để họ xem xét, quan sát và được nghe báo cáo kết quả, 15 máy này bỗng “đình công” và Đại Úy Murphy không thu được một tín hiệu nào nên không ghi được các số liệu sau một thử nghiệm mà tưởng chừng không có sai sót vì đã được chuẩn bị kỹ lưởng vì có mặt thượng cấp. Dĩ nhiên sau vài lần như vậy, ông bị thượng cấp khiển trách, bị gán tội “giỡn mặt” cấp trên và lệnh ban xuống cho biết: “chuẩn bị ra tòa án quân sự”, một hình thức kỷ luật mang tính quan trọng.

Trước khi thi hành lệnh, Đại úy Edward Murphy, Jr. yêu cầu thượng cấp cho ông được kiểm soát và làm thí nghiệm lại lần chót. Ông thấy tất cả các máy dò đều hoạt động bình thường, các sợi dây nối với cơ thể phi công cũng hoàn hảo. Cuối cùng ông ta tìm ra nguyên cớ: thay vì lắp 15 máy theo chiều quy định thì các kỹ thuật viên lắp theo chiều ngược lại. Ông thở phào trong sung sướng, thoát khỏi cay đắng và dĩ nhiên được thượng cấp tha tội.

Từ trước đó rất lâu, trong cuộc sống dân sự và quân ngũ, Đại úy Edward A. Murphy, Jr. đã bị nhiều vố nhớ đời, đến độ nghĩ ngay ra một điều mà chưa dám công bố những nghi ngờ, uẩn khúc trong tâm mình. Ông nhớ lại kỷ niệm của ngày nhận bằng tốt nghiệp Đại học. Hôm đó, vừa mặc chiếc áo mới trắng tinh ra phố, ông bị một chiếc xe nhà binh chạy bắn bùn dính đầy lên áo. Khi còn đi học, những lúc đến tiệm sách, ông thấy các loại sách mà ông cần dùng chất cả đống mà ông không có tiền trong túi, đến khi ông có tiền đến mua thì các cuốn sách đó không còn nữa. Lần dọn nhà sau cùng, ba đời chủ đã sống bình yên trong căn nhà đó trước ông, đến khi ông dọn về thì cái cầu thang sập, rồi sau đó, ngọn đèn chùm tự nhiên rơi thẳng xuống đầu đứa con trai ông ta làm nó bị thương nặng. Những lúc cần đến chỗ hẹn đúng giờ, thay vì đi con đường chính, ông muốn ít tốn thời gian hơn nên chọn con đường ngắn hơn thì lại bị kẹt xe nên bị trễ. Ngoài ra, còn nhiều việc “không may” khác xảy đến cho ông và gia đình. Ngoài việc ông ta từng gặp nhiều rắc rối trong cuộc sống, ông còn được nghe bạn bè, thân nhân kể lại các “nhiêu khê” mà họ đã từng gặp. Từ đó, sau biết bao nhiêu lần thí nghiệm và kiểm chứng, ông cho công bố định luật mang tên mình này. Sau khi công bố định luật, ông nói:

”Tôi không có ý định bôi đen cuộc đời mà chỉ muốn các vị đề phòng thường xuyên. Một khi đã đề phòng thì tránh được nhiều điều không vui, thế thôi!”.

Nhiều người cho rằng ông Murphy “suy bụng ta ra bụng người” và cho rằng sống mà lúc nào cũng nôn nóng, cứ lo âu, luôn phân vân… thì khổ quá! Nếu có lo âu, suy tính như vậy thì cuộc sống không còn thi vị nữa. Giới khoa học xem đó là kết quả của “ký ức chọn lọc”, do những sự việc đáng buồn luôn ăn sâu trong tâm trí của Murphy nên cho làm tinh thần ông ta như vậy.

Vài tháng sau khi công bố, Định luật Murphy được nhiều người chấp nhận, một số đông còn cổ vũ ông ta. Một trong các tổ chức đã xem đinh luật này là kim chỉ nam, đó là Không lực Hoa kỳ. Chín năm sau đó, nhà xuất bản Oxford của Anh quốc soạn bộ “Từ điển Oxford” có đưa Định luật Murphy vào trong đó, cột nầy gọi là Murphy’s Law.

3. Tiền đề của định luật Murphy

Sau đây là những hành động xảy ra, là tiền đề cho định luật Murphy.

Một bà mẹ phết bơ hay mứt lên mặt bánh mì mềm cho con, nếu vô ý đánh rơi miếng bánh đã được phết bơ, lúc nào mặt phết bơ cũng sẽ úp xuống đất. Có lời lý giải nào về việc này không ngoài sự lý giải có lẽ mặt có bơ nặng hơn? (vì thế còn có tên là “định luật bánh bơ”).

Những khi ra đường có mang dù theo thì trời không mưa, khi ta quên dù thì trời mưa. Người ta dùng “lý thuyết xác suất” cùng với vị trí địa lý để giải thích việc quên mang dù như sau:

”Khi mang theo dù khi có dự báo mưa làm cho mưa ít xảy ra. Nếu dự báo thời tiết chính xác 80%, thì việc mang dù theo sẽ đúng 4 trong số 5 trường hợp. Tuy nhiên, lập luận này lại không thích hợp với vùng hiếm mưa. Ở những vùng đó, 80% các dự báo mưa lại có kết quả ngược lại. Vì thế để quyết định có mang dù theo hay không, người ta cần tính đến xác suất có mưa trong khoảng thời gian đi trên đường (chẳng hạn 1 hay 2 giờ), có giá trị rất nhỏ nếu so với tiết diện của quả đất. Ví dụ xác suất mưa được cho là 0,1 có nghĩa sác xuất không dính mưa lớn gấp 10 lần khả năng mưa. Trường hợp nầy, “lý thuyết xác suất” cho thấy rằng ngay khi tỷ lệ mưa chính xác tới 80% thì khả năng mắc sai lầm cũng nhiều gấp hai lần khả năng không mắc, khiến việc mang theo dù trở nên vô ích, dự báo cao cũng chưa đủ để thắng các đột biến xảy ra. Hoặc giả, khi ta quên dù thì trời mưa vì việc mưa nắng tùy thuộc vào thời tiết”.

Ngoài ra, khi ta làm một việc gì, không muốn gây tiếng động sợ làm phiền người khác đang cần sự yên lặng thì ta thường hay vô ý gây tiếng động. Khi người nhà bị bệnh cần đưa đi Bác sĩ ngay thì xe bị hư hay hết xăng hay vừa chuẩn bị đi thì có cha mẹ anh em ruột thịt gọi đến nhờ việc cần, khẩn cấp, quan trọng v.v… Đó là những sự việc ngoài ý muốn mà ta thường gặp trong cuộc sống hàng ngày.

Khi đang cần đến một nơi nào đó đúng giờ lại bị kẹt xe trên đường, ta xe đang dừng hay chạy rất chậm trên một làn đường này thì thấy làn đường kia các xe khác chạy vù vù, ta vừa đổi sang làn đó thì làn đó bị kẹt lại còn làn đường trước thì xe lại tiến lên vùn vụt. Tương tự, khi xếp hàng, ta đứng hàng này, thấy hàng kia đi tới vù vù, khi bỏ hàng đang đứng sang hàng đó thì hàng mình bỏ đi lại tiến tới còn hàng mình vừa bước sang đứng lại. Trong 2 trường hợp đó xảy ra bởi nhiều lý do không tính trước được.

Các nhà khoa học, tâm lý học phản đối, không chấp nhận định luật này, họ xem đó là sự ngẫu nhiên cùng với lý luận, giải thích:

”Sở dĩ khi xếp hàng, ta thấy hàng kia tiến tới nhanh hơn hàng mình vì ta bị ảnh hưởng tâm lý, vì ta đang sốt ruột, đang nôn nóng; việc gây tiếng động là do ta bất cẩn, việc xe hư là do xe cũ v.v…”

Và cho là:

Định luật Murphy chẳng có gì là khoa học cả, không có cơ sở vững chắc”.

Để chứng minh lập luận của mình, họ nghiên cứu tất cả mọi khía cạnh về các lãnh vực khoa học: từ khí động học, trọng lượng của cái bánh đến khối lượng lớp bơ; từ bánh mì mềm đến bánh mì cứng, sự cọ xát của bánh mì với không khí, vận tốc rơi, sự xoay 180 độ,… Thế nhưng kết quả bao giờ cũng là việc xấu có cơ may cao hơn. Và rồi, tuy họ không tìm được câu trả lời cho các hiện tượng đã xảy ra này nhưng không những họ không tin, không chấp nhận định luật Murphy mà còn đả phá, chống đối.

Để kiểm chứng định luật này, một nhà toán học của Đại học Aston tại Birmingham, Anh quốc là ông Robert A. J. Matthews đã dùng kiến thức của nhiều ngành khoa học để khám phá, thực thi nhiều lần các thí nghiệm: cố ý đánh rơi bánh mì có phết bơ, cố tình vất quyển sách xuống sàn: kết quả là 90% là mặt có bơ và trang sách úp xuống sàn, ít khi bìa sách hay mặt không có phết bơ nằm dưới, cho thấy rằng định luật Murphy là có cơ sở. Những nghiên cứu của Matthews dẫn tới sự ngạc nhiên thực sự:

“Có một mối liên hệ sâu xa giữa “hành động” của lát bánh mì và các hằng số căn bản của vũ trụ. Mặt phết bơ của lát bánh mì sẽ không úp xuống dưới nếu chiếc bàn đủ cao để lát bánh quay trọn một vòng. Nhưng chiều cao của cái bàn phải phù hợp với chiều cao của con người”.

Từ đây nảy sinh ra câu hỏi:

”Tại sao chúng ta lại có chiều cao đang có?”

Giáo sư Vật lý Thiên văn William H. Press của trường Đại học Harvard giải thích:

”Con người là loài động vật có xương sống đứng bằng hai chân nên rất dễ ngã. Nếu quá cao, chúng ta sẽ bị chấn thương sọ não mỗi khi ngã và loài người sẽ bị diệt vong vì một nguyên nhân tầm thường! Để tránh thảm họa đó, con người không được cao quá một giới hạn nào đó, và giới hạn chiều cao con người được quy định bằng độ lớn tương đối giữa các liên kết hóa học và vật lý của hộp sọ đối với lực hấp dẫn của trái đất”.

Từ tuyên bố của William H. Press đó, giáo sư Matthews đưa ra nhận định:

”Chiều cao cực đại của con người chưa đến 3 mét, thấp hơn nhiều giá trị cần thiết để mặt phết bơ của lát bánh mì không úp xuống đất. Nói một cách khoa học, mặt phết bơ úp xuống đất vì vũ trụ “mong muốn” như vậy!”

Kết luận trên được đăng trên Tạp chí vật lý châu Âu và thu hút sự chú ý đặc biệt của nhiều người. Người ta còn đặt câu hỏi với ông Matthews yêu cầu giải thích các điểm khác:

”Tại sao thời tiết thường xấu vào ngày nghỉ?”

”Xe hơi thường bị hư trên đường tới một cuộc họp quan trọng?”, v.v…

Ông Matthews cho rằng đó là kết quả của “ký ức chọn lọc”. Điều nầy củng cố niềm tim của Matthews về hiệu lực của định luật Murphy.

Ngoài Robert A. J. Matthews còn có ông Richard Glover, một người Úc hưởng ứng định luật Murphy. Ông Richard đã thử nhiều lần trong một thời gian dài. Nhiều người khác cũng hưởng ứng nhưng không nêu danh tánh.

Riêng Murphy, ông đã bỏ không biết bao nhiêu công lao để thực hành nhiều thí nghiệm, hàng trăm đến hàng ngàn lần, từ đơn giản đến phức tạp, trong rất nhiều lĩnh vực để xem mình đúng hay sai trước và sau khi công bố định luật. Một trong các thí nghiệm là việc: Ông vốn gét số 3 và thích số 7, ông đã bỏ hàng trăm thẻ kim loại khắc số 7 và số 3 với lượng bằng nhau vào một ống, xóc đều và rút thăm. kết quả là ông rút phải số 3 nhiều hơn số 7.

Nhiều người khác, sau khi nghe định luật nầy được công bố cũng đã có những thí nghiệm để tìm kết quả cho định luật này, hầu biết biết thực tế nó ra sao. Một trong các thí nghiệm khả tín được diễn ra ở Bruxelles, Bỉ quốc của nhà Vật lý học nổi danh Eugène Lapotier về “một người nghiện mua vé số”. Trong 12 năm trời mua vé số mà người nầy không bao giờ trúng, con số mà người này không mua thì người khác mua nó lại trúng, con số ông mua nhiều lần nhưng không trúng, ông bỏ thì người khác mua nó lại trúng. Nhiều tuần ông không mua thì người bán vé cho biết là có người trung lớn. Việc này cũng giống như một cậu học trò, hôm cậu ta thuộc bài thì thầy không kêu trả bài, hôm không thuộc bài thì thầy giáo kêu cậu ta trả bài vậy.

Ở một số nước phương Đông, cũng có những quan niệm tương tự như định luật Murphy, thí dụ các thành ngữ: phúc bất trùng lai (dịp may không lặp lại), họa vô đơn chí (cái họa không đến một lần)” nhưng qua cách diễn giải hơi khác hơn một chút.

4. Những nguyên tắc căn bản của định luật Murphy

Định luật Murphy ngày nay đã được chuyển dụng qua các tiểu định luật khác, như: định luật Murphy trong kỹ thuật, trong tình dục, trong tình yêu, trong nghiên cứu và ngay cả trong nghiệp vụ.

Sau đây là những nguyên tắc của định luật Murphy (lược dịch):

1. Thấy thì dễ mà không phải vậy (Nothing is as easy as it looks).
2. Làm bất cứ việc gì cũng phải mất nhiều thời gian hơn ta nghĩ (Everything takes longer than you think).
3. Việc gì có thể sai, thì nó sẽ sai (Anything that can go wrong will go wrong).
4. Nếu một số việc có khả năng sai thì việc nào gây thiệt hại
nhiều nhất sẽ là điều sai (If there is a possibility of several things going wrong, the one that will cause the most damage will be the one to go wrong).
5. Nếu đơn giản là một việc nào đó không thể sai thì nó vẫn sẽ sai (If anything simply cannot go wrong, it will anyway).
6. Nếu bạn nhận thức rằng diễn tiến một sự việc có bốn hướng có thể sai và mãi loay hoay quanh đó thì sẽ đột xuất phát sinh ra một hướng thứ năm (If you perceive that there are four possible ways in which a procedure can go wrong, and circumvent these, then a fifth way, unprepared for, will promptly develop).
7. Buông thả những sự việc thì kết quả sẽ từ xấu cho đến tồi tệ (Left to themselves, things tend to go from bad to worse).
8. Nếu bạn thấy mọi việc dường như đều tốt đẹp thì rõ ràng bạn đã coi thường một điều gì đó (If everything seems to be going well, you have obviously overlooked something).
9. Thiên nhiên lúc nào cũng đứng về phía “cái xấu” tiềm ẩn (Nature always sides with the hidden flaw).
10. Thiên nhiên “chó má” (Mother nature is a bitch). {Một cách nói yếm thế, bất mãn – LCT.}.
11. Không có việc gì tránh khỏi lỗi lầm vì kẻ gạt gẫm rất tinh khôn (It is impossible to make anything foolproof because fools are so ingenious).
12. Khi muốn khởi công làm một việc thì phải hoàn tất một việc khác trước đã (Whenever you set out to do something, something else must be done first).
13. Mỗi giải pháp đều phát sinh ra những vấn đề mới (Every solution breeds new problems).

Nếu không tin, ta thử thí nghiệm xem sao, hoặc nhớ lại những kỷ niệm mà cá nhân mỗi người hay người quen biết đã gặp để mỗi người trong chúng ta có một nhận xét.

Trong cuộc sống hàng ngày, ta gặp phải các “chuyện quáy gỡ” rất kỳ lạ sau đây:

Khi ta vừa ngồi vào bàn chuẩn bị ăn, uống nước, bàn chuyện gia đình,… thì có chuông điện thoại reo. Khi ta vừa bước vào phòng tắm, trút bỏ áo quần định tắm cho thoải mái thì có ai đó bấm chuông gọi cửa hay điện thoại reo. Lúc ta đang tiếp khách thì người nầy gọi đến, người kia tìm gặp trên điện thoại với chuyện cần thiết, làm khách khứa phải chờ đợi ta. Khi ta đang nghe radio, xem tivi, đọc sách báo… hễ ta định đi uống miếng nước thì nó lại phát một tin quan trọng hay một tình tiết đáng xem, khi trở vào là hết. Khi đang đi tàu hỏa, lắng nghe tin trên chiếc radio, đến đoạn tin quan trọng thì tàu chui vào hầm hay có một biến cố gì đó bất thường hay hành khách chung quanh làm ồn kinh khủng làm ta không nghe gì được. Khi các chuyện ấy chấm dứt thì bản tin vừa hết.

Và thêm nữa: Những số điện thoại cần gặp, khẩn cấp, quan trọng…đã cố ý lưu lại một chỗ, khi mình cần lại biến đâu mất, hoặc khi khẩn cấp thật sự, gọi đến thì…im re. Chúng ta muốn thay bộ ghế đệm, sofa mới nhưng hễ càng cũ thì thấy nó lại càng êm, càng mềm, ngồi nằm đều cảm thấy rất dễ chịu, còn ta thay bộ mới là cứng ngắc, do vậy cứ tiếc hùi hụi bộ cũ! Chuyện học của con cái lúc bé, ban ngày, nhắc chúng học bài thì cứ ngủ gà ngủ gật; vậy mà đêm đến, bảo đi ngủ mãi nó không ngủ được. La hét chúng nó thì chúng vờ nhắm mắt, cứ không chịu ngủ.

Ngoài ra: Nếu có một đôi giày mình thích mang nó, ưng ý, thì nó cứ hay mất hoặc biến đi đâu một chiếc khi cần đi gấp mà không có thì giờ tìm nó còn đôi giày không vừa ý thì nằm sờ sờ ra đó. Hôm nào đi dự một buổi lễ hội quan trọng nào đó, diện đồ đẹp xong, vào kéo hộc giày, tìm đôi giày đẹp nhất thì nó mất đâu một chiếc, mấy đôi giày cũ lù lù ra đó. Khi ta ném một vật ra ngoài, trong tâm ta không muốn nó vướng vào vật gì để đi lạc hướng, thế nhưng nó lại trái ý của ta, vướng vào thanh cửa sổ chẳng hạn rồi bay trở vào nhà. Một cầu thủ sút trái bóng luôn muốn đi vào gôn, tuy tiết diện trụ gôn chỉ bằng phần ngàn của khoảng cách hai trụ gôn, vậy mà trái bóng thường trúng vào trụ gôn mà không đi vào khung thành.

5. Lời kết

Có thể Đại úy Murphy không hài lòng vì những ý tưởng chống đối hay không tuyệt đối tin tưởng vào định luật ông đưa ra hay có xu hướng “tầm thường hóa” các nguyên lý rất có giá trị của ông trong các kỹ thuật đòi hỏi sự an toàn tối cao. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học “đồng tình” với Murphy cho rằng các phiên bản “bình dân” của quy luật này không hề thiếu sức sống và tiện ích. Bài học quan trọng nhất từ định luật Murphy là “các hiện tượng tầm thường chưa chắc đã có cách giải thích tầm thường”, nói theo hơi hướm của triết học, một “tiểu định luật” phát sinh từ định luật Murphy.

Dẫu tin hay không tin, chúng ta vẫn nên cám ơn định luật Murphy vì nhờ vào định luật nầy, ta có thể đề phòng các trạng huống xấu có thể xảy ra khi giải quyết một viêc. Không phải ngẫu nhiên mà các kỹ sư hàng không của Hoa kỳ vào thập niên 1940 đã thuộc nằm lòng câu nói của Murphy:

”Nếu bạn có hai cách giải quyết, một tốt một xấu, thì… coi chừng: có thể bạn sẽ đi theo…cách xấu”.

Ngoài ra, “nhân vật số một của năm 2009” được tờ Time bầu chọn là ông Ben Bernake, Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ, là một trong những người quyền lực nhất hành tinh, có lẽ cũng tin vào định luật Murphy. Người ta thấy trên bàn làm việc của ông có một quyển lịch với câu: “Bất cứ cái gì có thể sai thì sẽ sai” cho mỗi ngày trong năm. “Những quyết định của Ben Bernanke ảnh hưởng tới ví tiền của mỗi chúng ta” và xa hơn nữa, “có thể ảnh hưởng tới công việc và tương lai của bất cứ cá nhân nào trên thế giới”, tờ Time viết như vậy khi cho rằng khả năng điều hành, sáng tạo của vị Giáo sư trường Princeton này đã góp phần quan trọng đưa nền kinh tế Mỹ và thế giới vượt qua cơn khủng hoảng tài chánh hiện tại.

Chắc những người tin tưởng vào định luật này có “cái lý” của họ. Biết đâu!